Trang chủ NLU| KhoaNôngHọc| Mụclục Hoàng Kim | Ngọc Phương Nam | CNM365| Tình yêu cuộc sống | Khát khao xanh | Dạy và học | FoodCrops| HKWiki| Violet| FAOSTAT| ThốngkêVN | ThờitiếtVN|
Thống kê
Số lần xem
Đang xem
Toàn hệ thống
Trong vòng 1 giờ qua
Trang liên kết

 

Tỉnh thức giữa đêm thiêng YênTử
Để thấm hiểu đức Nhân Tông
Ta thành tâm đi bộ
Lên tận đỉnh chùa Đồng
Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

THUNG DUNG
Nguyễn Bỉnh Khiêm, ...


DẠY VÀ HỌC
Để chấn hưng giáo dục Việt Nam cấp thiết phải có đội ngũ những người thầy giáo ưu tú có tâm đức thiết tha với nghề, có trình độ chuyên môn cao và có kỹ năng giảng dạy tốt. Đây là trang thông tin chuyên đề dạy và học để trao đổi và bàn luận


Khoa Nông Học  
Những nhà khoa học xanh,
http://foodcrops.vn


Norman Borlaug
Lời Thầy dặn

Việc chính đời người chỉ ít thôi
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện
Di sản muôn năm mãi sáng ngời.


Thông tin Cây Lương thực
 Lúa, Ngô, Sắn, Khoai lang
Nông trại và Hệ thống Canh tác
http://foodcrops.vn
FOOD CROPS
CÂY LƯƠNG THỰC
  



Tình yêu cuộc sống
Thông tin chuyên đề chọn lọc

Science Daily

KHÁT KHAO XANH
HOÀNG KIM
CNM365

Luôn làm mới kiến thức của bạn !



Bút tích NB gửi HK và
Những tư liệu quý về 
GS.TS. Norman Borlaug

Lối vào Phong Nha

 


HOÀNG KIM
NGỌC PHƯƠNG NAM
CHÀO NGÀY MỚI

DẠY VÀ HỌC
CÂY LƯƠNG THỰC
FOOD CROPS



THƯ VIỆN NGHỀ LÚA
Thư viện Khoa học Xã hội





Cassava in Vietnam



A New Future for Cassava in Asia

On-line: Cassava in Asia
(Tải tài liệu PDF tại đây)


 

KimFaceBook
KimYouTube

KimLinkedIn

Songkhongtubien

KIMYOUTUBE. Video nhạc tuyển Sóng không từ biển (xem tiếp).



GỬI THƯ ĐIẾN TỬ VÀ
LIÊN KẾT TRỰC TUYẾN

hoangkimvietnam@gmail.com 
hoangkim@hcmuaf.edu.vn  
TS. Hoàng Kim

http://foodcrops.vn
http://vi.gravatar.com/hoangkimvn
http://en.gravatar.com/hoangkimvn

Thành viên

Email:
Password

Nội dung

  Tình hình biển Đông có gì mới?

alt

Tình hình biển Đông có gì mới ? các bài mới đáng chú  ý : 7 đảo nhân tạo Trung Quốc vừa bồi đắp ở Trường Sa đặt ra vấn đề cấp bách gì? (Hải Đăng, VHNA 30 3 2015)  Mỹ: Trung Quốc xây Vạn lý Trường Thành trên Biển  Đông (VOA 2 4 2015); Sóng ngầm địa chính trị khu vực và sự lựa chọn của Việt Nam (Lê Hồng Hiệp. Nghiên cứu Quốc tế 28. 12. 2014); Biển Đông: Thế trận đảo nhân tạo Trung Quốc đe dọa Việt Nam (RFI, 2.3. 2015); Trang Tình yêu cuộc sống lập chuyên mục này để chăm chú theo dõi và quan tâm sâu sắc. “Biển Đông vạn dặm chung tay giữ. Đất Việt muôn năm vững thái bình” (Nguyễn Bỉnh Khiêm 1491-1585). xem tiếp:   https://hoangkimlong.wordpress.com/2015/04/02/tinh-hinh-bien-dong-co-gi-moi-2/

 

7 đảo nhân tạo Trung Quốc vừa bồi đắp ở Trường Sa đặt ra vấn đề cấp bách gì? (I)

7 đảo nhân tạo Trung Quốc vừa bồi đắp ở Trường Sa đặt ra vấn đề cấp bách gì?

Hải Đăng

Nguồn: Văn Hóa Nghệ An, Thứ hai, 30 Tháng 3 2015 15:56
http://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhin-ra-the-gioi/7-dao-nhan-tao-trung-quoc-vua-boi-dap-dat-ra-van-de-cap-bach-gi+&cd=1&hl=vi&ct=clnk&gl=vn

ĐỒNG THUẬN NỘI BỘ & ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ

Hối hả bồi đắp 7 bãi đá và rặng san hô để tạo ra các hòn đảo nhân tạo là hành động rất quyết đoán của Trung Quốc trong chiến lược biển hiện nay. Hành động ấy khẳng định tham vọng đòi chủ quyền trên toàn bộ các đảo, đá và các thực thể khác ở Biển Đông và “vùng biển tiếp giáp” được gộp thành yêu sách “đường đứt khúc chín đoạn”. Thiết lập sự hiện diện ngay tại trung tâm Biển Đông bằng cách phi pháp ấy, Trung Quốc đang muốn vẽ lại ranh giới địa lý của Đông Nam Á.

Thế trận các đảo nhân tạo của Trung Quốc trên Biển Đông giờ đây không còn là nguy cơ tiềm ẩn nữa mà đã trở thành mối đe dọa trực tiếp và công khai không chỉ đối với Việt Nam, đa số thành viên ASEAN, mà ngay đối với cả các bạn bè lẫn đối tác ngoài khu vực Đông Nam Á như Hoa Kỳ, Ấn Độ, Ốtxrâylia và nhiều nước khác. Căn cứ vào những bức ảnh vệ tinh chụp được, trận đồ mà Trung Quốc đang triển khai trên Biển Đông được thấy rất rõ, kết nối quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã cướp từ Việt Nam năm 1974 với hệ thống 7 bãi đá, rặng san hô tại quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc cưỡng chiếm từ Việt Nam và Philippines và đã cấp tốc cải tạo trong những tháng qua. Các bãi đá, rặng san hô đó bao gồm: Tư Nghĩa (Hughes Reef), Gạc Ma (Johnson South Reef), Ga Ven (Gaven Reef), Chữ Thập (Fiery Cross Reef), Châu Viên (Cuarteron Reef), Én Đất (Eldad Reef) và Vành Khăn (Mischief Reef).

“Bình chân như vại” là nguy hiểm

Bài học từ cuộc vận động quốc nội lẫn quốc tế chống lại việc hạ đặt trái phép giàn khoan 981 không bao giờ cũ. Làm sao quên được làn sóng dâng trào trong cả nước và nhiều nơi trên thế giới hồi “mùa Hè đỏ lửa” năm ngoái khi Trung Quốc “cắm” giàn khoan khủng vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam! Tuy nhiên, vận hành hệ thống 7 bãi đá và rặng san hô nói trên nguy hiểm hơn việc hạ đặt giàn khoan 981 rất nhiều. Tiến trình Trung Quốc gia cố và mở rộng các hoạt động bồi đắp và xây dựng thành chuỗi đảo nhân tạo ấy cho thấy những tính toán chiến lược dài hạn hơn của họ trên Biển Đông. Hạ đặt Hải Dương 981 tuy là bước đi khá nguy hiểm, nhưng thực chất lại có cách xử lí và thu hút được sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế dành cho các nước như Việt Nam. Trong khi đó, dù diễn ra chậm chạp và khó nhận biết, nhưng chủ trương bồi đắp đảo nhân tạo lại nguy hiểm hơn rất nhiều, vì giá trị chiến lược và khả năng thay đổi cục diện mà chuỗi đảo sẽ mang lại cho Trung Quốc khi được phát triển đầy đủ.

7 hòn đảo nhân tạo sẽ cung cấp rào cản để đối phó với bất kỳ kết quả bất lợi nào từ Tòa án Trọng tài Quốc tế hiện đang xem xét đơn kiện của Philippines chống lại Trung Quốc. Bởi vì, các đảo nhân tạo không nằm trong phạm vi thủ tục pháp lý đang tiến hành. Gạt được các cứ điểm quân sự trá hình ấy khỏi trận đồ pháp lý, Trung Quốc có thể tự tung tự tác trong việc đe dọa trực tiếp đối với Việt Nam, hoặc cô lập Việt Nam thông qua việc tấn công hoặc hù dọa các thành viên ASEAN khác. Trong bối cảnh ấy, nếu không có những đột phá về tính toán chiến lược, phải thừa nhận rằng, cả Việt Nam lẫn ASEAN khó có thể có bất kỳ hành động chính trị và ngoại giao nào đối phó với Trung Quốc. Nguy hiểm hơn, với thế trận hiện nay, Trung Quốc sẽ có thể chủ động hành sự, hay phản ứng trước các sự cố nẩy sinh tại chỗ một cách nhanh chóng hơn nhiều so với trước đây. Việt Nam sẽ còn ít thời gian để đáp trả. Các nhà phân tích quân sự Việt Nam và quốc tế đều nói tới nguy cơ Bắc Kinh dễ dàng tấn công đánh chiếm các hòn đảo do Việt Nam trấn giữ mà các lực lượng Việt Nam sẽ trở tay không kịp.

Để đối phó, cho dù chỉ trên tầm ngắn hạn, chúng ta phải làm sống lại tinh thần Diên Hồng trong thời đại mới. Vấn đề không phải là “hòa” hay “đánh”. Vấn đề là trên dưới phải đồng lòng và quyết tâm, trong ngoài phải biết chia sẻ giá trị và kết nối thành một khối. Phải vô hiệu hóa càng sớm càng tốt cái triết lý của kẻ chuyên đi bắt bí và ức hiếp. Không thể để cho Trung Quốc thực hiện phương châm “cái gì của tôi là của tôi, còn cái gì của anh thì có thể đưa ra đàm phán”. Không! Đảo bị cướp quyết không thể là đảo bị mất! Trung Quốc đã chiếm giữ bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa của chúng ta trên 40 năm nhưng không hề có một quốc gia nào công nhận chủ quyền trên cơ sở chiếm đoạt bằng vũ lực ấy của Bắc Kinh. Tuy nhiên, chúng ta hiểu rằng, thời gian chờ đợi không phải là vô hạn. Chúng ta phải khẩn trương hành động trong khoảng thời gian ngắn còn lại! Lẽ phải ở phía chúng ta, sự công chính ủng hộ chúng ta. Chúng ta hãy cùng các quốc gia trong và ngoài khu vực kiến tạo nên một trật tự quốc tế mới để hậu thuẫn cho xu hướng hòa bình và công lý trở lại với Biển Đông. “Bình chân như vại” lúc này là nguy hiểm và sẽ đắc tội với tiền nhân.

Bùa chú không thay được giải pháp

Chiều 5/3, tại họp báo thường kỳ, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao tuyên bố: “Việc Trung Quốc xây dựng, mở rộng trái phép công trình trên các bãi, đá và làm thay đổi nguyên trạng tại khu vực quần đảo Trường Sa không chỉ xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam mà còn vi phạm Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) đã được ký kết giữa Trung Quốc và ASEAN. Việt Nam phản đối và yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay những hành động sai trái đó”. Trong tình hình hiện nay, những tuyên bố routine như thế này rõ ràng không mấy tác dụng. Vấn đề dư luận bức xúc hiện nay là nếu Trung Quốc cứ tiếp tục đà lấn tới như thế, liệu Việt Nam có nên liên minh với các nước khác hay không để tự bảo vệ chính mình trong tình huống khẩn cấp. Giới nghiên cứu chính sách đều đồng ý, Việt Nam sẽ không liên minh với nước này để chống nước kia, nhưng chúng ta rõ ràng cần sự hỗ trợ từ quốc tế “chống lưng” giúp Việt Nam đảm nhiệm được sứ mệnh duy trì hòa bình và an ninh ở Biển Đông. Quan điểm này được phản ánh trong phát biểu của TS. Lê Hồng Hiệp, từ Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh: “Việt Nam chỉ có thể hòa hiếu với Trung Quốc nếu Trung Quốc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nếu Trung Quốc dùng bạo quyền để cưỡng bức thì chúng ta không thể mềm yếu để rồi mãi mãi đánh mất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ vì một thứ ‘hữu nghị viễn vông’… Trong khi tìm mọi cách cố gắng duy trì quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và tương kính với Trung Quốc, chúng ta (Việt Nam) cũng nên sẵn sàng theo đuổi các mối quan hệ liên minh với các đối tác ở các lĩnh vực và mức độ khác nhau để đối phó với các mối đe dọa trên Biển Đông”[1].

TSKH. Lương Văn Kế từ Đại học Quốc gia Hà Nội tiến xa hơn khi ông kiến nghị Việt Nam cần điều chỉnh chính sách “ba không”, theo đó Việt Nam từng cam kết không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia. Nhà nghiên cứu về quan hệ quốc tế này dường như cùng chia sẻ quan điểm với Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Bộ Công an khi lão tướng này khẳng định sức mạnh vượt trội của Hoa Kỳ, đối tác duy nhất ông cho là Việt Nam có thể liên minh để đứng mũi chịu sào trước thế lực phương Bắc. Vị Thiếu tướng này tuyên bố chúng ta phải chơi bài ngửa: “Việt Nam không liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc nhưng chúng ta cần sức mạnh của Mỹ để răn đe mọi thế lực ngoại bang muốn xâm lược Việt Nam”[2]. Qua các tuyên bố có thể thấy, ước muốn liên minh đang là nhu cầu bức thiết nhất hiện nay của đa số nhân sĩ trí thức, ngay cả trong hàng ngũ quân đội và công an. Khi Việt Nam không thể tự mình đủ sức bảo vệ đất nước thì các câu bùa chú không thể thay thế cho tư duy sáng tạo nhằm tìm ra giải pháp tối ưu, biết đặt an nguy của dân tộc lên trên tất cả.

“Lụt sẽ lút cả làng”. Thế trận biển đảo nhân tạo chính là sản phẩm từ “kinh lược hải dương” của Trung Quốc đang đe dọa lợi ích cốt lõi của các nước trong và ngoài khu vực. Nhiều nước, trong đó có các nước lớn đã lên tiếng. Một vài thành viên ASEAN cũng đã tuyên bố phản đối. Việt Nam đã bày tỏ thái độ nhưng cần phải mạnh mẽ hơn nữa. Phải tố cáo trước công luận quốc tế: thế trận đảo nhân tạo của Trung Quốc là âm mưu áp đặt quyền kiểm soát quân sự, giám sát mọi hoạt động không quân và hải quân của các nước trong và ngoài khu vực. Không chỉ bày tỏ thái độ mà Việt Nam cần phải thay đổi cả quan niệm về tập hợp lực lượng trên trường quốc tế khi hữu sự. Không chỉ hợp tác và đấu tranh, mà vấn đề là phải nhấn mạnh tinh thần đấu tranh kiên quyết để bảo vệ chủ quyền thiêng liêng không thể đánh đổi và vượt qua mọi giới hạn để hợp tác toàn diện với đối tác bên ngoài khi cần thiết.

Theo ý kiến của GS. Carl Thayer (Ốtxtrâylia) Việt Nam có thể tác động đến thái độ của Trung Quốc thông qua các hoạt động ngoại giao mạnh mẽ ở cấp độ song phương và đa phương. Giới lãnh đạo Việt Nam cần thẳng thắn nêu bật vấn đề này với Trung Quốc. Việt Nam cần huy động sự trợ giúp từ khối ASEAN và từ cộng đồng hàng hải quốc tế. Điều tốt nhất mà các nỗ lực này có thể đạt tới là thuyết phục được Trung Quốc hành động với sự tự kiềm chế và minh bạch hơn về ý định của mình. Việt Nam có thể làm việc chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ và các cường quốc hàng hải khác để áp dụng một loạt “chiến lược áp đặt cái giá phải trả” (cost-imposition strategy) trên Trung Quốc. Những chiến lược áp đặt giá phải trả khả dĩ thực hiện được là nhờ sáng kiến từ Trung tâm vì An ninh Mới của Mỹ (CNAS) ở Washington DC. Chiến lược này nhằm chứng minh cho Trung Quốc thấy rằng các hành động của họ sẽ tạo ra phản ứng ngược lại từ phía các quốc gia khác, khiến cho Trung Quốc khó mà tiếp tục con đường hiện tại, phải cân nhắc hơn thiệt về các hành động của họ trong tương lai[3]./.

Bài 2: Trật tự sẽ bị đảo lộn

[1] http://nghiencuuquocte.net/2014/12/28/song-ngam-dia-chinh-tri-khu-vuc-va-lua-chon-cua-viet-nam/
[2]
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2015/01/150102_vn_2015_foreign_relation_views
[3]
http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150302-bien-dong-viet-nam-va-cac-de-doa-tu-the-tran-dao-nhan-tao-trung-quoc/

Các bài viết liên quan:

7 đảo nhân tạo Trung quốc vừa bồi đắp ở Trường Sa đặt ra các vấn đề cấp bách nào? (II)
Từ hải chiến Hoàng Sa (1974), Trường Sa (1988) đến căng thẳng ở Biển Đông hiện nay – Đôi điều về chiến lược biển của Trung Quốc và ứng phó của Việt Nam
Tiến tới quan hệ hưng thịnh và bền vững
Ảnh hưởng của lịch sử tới Trung Quốc ngày nay
21 sự thật nên biết về Trung Quốc
Thoát Trung hay thoát chính mình?
Giải mã sự tan băng quan hệ Mỹ- Cuba
Nghĩ gì, làm gì khi Trung Quốc tiếp tục xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông?
Giải pháp nào cho “vạc dầu” ở Biển Đông?
Chủ tịch hoàng đế Trung Hoa Tập Cận Bình thắt chặt quyền kiểm soát
Quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam bị xâm phạm bởi hành vi hạ đặt giàn khoan Hải dương 981 của Trung Quốc
Trung Quốc có “từ bỏ Triều Tiên” hay không?
Vì sao Trung Quốc mãi vẫn chưa giành được giải Nobel khoa học?
Tại sao tình hữu nghị Nga-Trung sẽ bền vững
Bắc Kinh tấn công mạnh trước kỳ Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Á – Thái Bình Dương
Chủ nghĩa cộng sản thân hữu tại Trung Quốc

Sóng ngầm địa chính trị khu vực và lựa chọn của Việt Nam

china-us1

Tác giả: Lê Hồng Hiệp

Trong năm 2014, sự kiện nổi bật nhất của ngành đối ngoại Việt Nam có lẽ chính là cuộc đấu tranh xung quanh sự kiện giàn khoan Hải Dương 981. Việc Trung Quốc cuối cùng phải rút giàn khoan ở một chừng mực nào đó có thể coi là một thành công đối với Việt Nam, nhưng đó cũng là một thách thức còn để ngỏ khi hàng loạt câu hỏi vẫn chưa có lời đáp: Liệu Trung Quốc có tái diễn vụ giàn khoan, nếu có thì ở đâu, và nếu không thì Trung Quốc sẽ có hành động gì trên Biển Đông? Quan trọng hơn, Việt Nam cần phải xử lý mối quan hệ với Trung Quốc ra sao trong bối cảnh rộng lớn hơn là các sóng ngầm địa chính trị khu vực đang diễn biến ngày càng phức tạp?

Bài phân tích này sẽ cố gắng trả lời các câu hỏi trên. Tuy nhiên, trước khi đi vào vấn đề chính là quan hệ Việt – Trung, chúng ta cần điểm lại một số nét chính trong tình hình các quốc gia chủ chốt cũng như bối cảnh địa-chính trị khu vực, những yếu tố vốn có tác động quan trọng tới cục diện quan hệ song phương.

Bối cảnh các quốc gia chủ chốt

 

Trung Quốc

Sau hơn 3 thập niên phát triển liên tục với tốc độ 2 con số, hiện nay tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đang chững lại ở mức khoảng 7%/năm với nhiều khó khăn chồng chất như mô hình tăng trưởng cũ hết động lực, cơ cấu và xu hướng dân số bất lợi, các rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống tài chính – ngân hàng và thị trường nhà đất… Điều này đặt ra những thách thức lớn cho tính chính danh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).

Một mặt, thực tế này yêu cầu Trung Quốc phải tiến hành cải cách cơ cấu nền kinh tế theo hướng từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa trên đầu tư và xuất khẩu sang dựa trên tiêu dùng trong nước và sức sáng tạo của các doanh nghiệp, thể hiện qua các biện pháp đề ra tại Hội nghị TW 3 năm 2013. Mặt khác, Trung Quốc cũng tiến hành cuộc chiến chống tham nhũng mạnh mẽ, vừa giúp củng cố quyền lực của tân Chủ tịch Tập Cận Bình, vừa giúp loại bỏ các rào cản, các nhóm lợi ích gây cản trở cải cách kinh tế, đồng thời giúp nâng cao uy tín của Đảng trong bối cảnh trụ cột chính trong tính chính danh của Đảng là thành tích phát triển kinh tế đang gặp khó khăn.

Về đối ngoại, Trung Quốc đã thoát ra ngoài tư thế “giấu mình chờ thời”, bắt đầu công khai và mạnh mẽ cạnh tranh vị thế và ảnh hưởng với Hoa Kỳ trong khu vực và trên thế giới, thể hiện qua các sáng kiến như “con đường tơ lụa thế kỷ 21”, “con đường tơ lụa trên biển”, ý tưởng “châu Á là của người châu Á”, hay việc thành lập Ngân hàng Phát triển Mới với nhóm BRIC…

Trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc đề xướng mô hình “quan hệ cường quốc kiểu mới” nhằm thuyết phục Mỹ không “ngăn chặn” Trung Quốc vươn lên, vừa nhằm đạt được vị thế ngang hàng với Mỹ, qua đó phân chia khu vực ảnh hưởng với Washington. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tỏ ra hung hăng và cứng rắn hơn trong các tranh chấp biển và lãnh thổ với láng giềng, mà ví dụ tiêu biểu là vụ giàn khoan 981. Điều này vừa phù hợp với xu thế chung trong chính sách đối ngoại của chính quyền Tập Cận Bình, vừa có tác dụng giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc để củng cố sự ủng hộ của người dân trong bối cảnh tính chính danh trong nước của ĐCSTQ ngày càng bị thách thức.

Trong năm tới Trung Quốc có thể thực hiện “ngoại giao hòa hoãn” do e dè trước phản ứng của cộng đồng quốc tế sau vụ giàn khoan 981 và lo sợ các nước trong khu vực sẽ nghiêng về phía Mỹ, đi ngược lại mục tiêu lớn của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong dài hạn, với việc Trung Quốc từ bỏ chính sách “giấu mình chờ thời” để theo đuổi tham vọng siêu cường, kết hợp với khó khăn trong nước nhiều khả năng sẽ ngày càng nghiêm trọng, xu thế hung hăng, lấn lướt của Bắc Kinh trong chính sách đối ngoại, đặc biệt là trên vấn đề Biển Đông, nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn.

 

Nhật Bản

Sau khi quay lại làm thủ tướng năm 2012, ông Shinzo Abe đã tiến hành nhiều cải cách kinh tế và chính trị quan trọng. Về kinh tế ông Abe đã tiến hành chính sách Abenomics, với ba “mũi tên” gồm kích thích tài khóa, nới lỏng tiền tệ và cải cách cơ cấu. Tuy nhiên sau khi phát huy hiệu quả vào năm 2013 với việc kinh tế Nhật tăng trưởng 1,5%, thì sang năm 2014 chính sách này đã bị “hụt hơi” khi nền kinh tế bị co lại 2%, trong đó một nguyên nhân chủ yếu được đánh giá là việc chính quyền Abe tăng thuế tiêu dùng quá sớm (vào tháng 4/2014) từ mức 5% lên 8%,[1] khiến lòng tin của người tiêu dùng sụt giảm, tác động tiêu cực tới phục hồi kinh tế.

Trong bối cảnh đó, ông Abe đã tuyên bố giải tán quốc hội vào tháng trước và tổ chức bầu cử sớm vào ngày 14/12 vừa qua. Kết quả Đảng Dân chủ Tự do (LDP) đã tiếp tục giành thắng lợi áp đảo,[2] qua đó giúp củng cố và kéo dài tuổi đời chính trị của ông Abe, giúp ông có nhiều thời gian hơn để tiếp tục thực hiện chính sách Abenomics cũng như các thay đổi về chính sách đối ngoại.

Về chính sách đối ngoại, điểm tiêu biểu trong thời gian qua là chính quyền Abe đã diễn dịch lại hiến pháp để cho phép quân đội Nhật có vai trò lớn hơn. Cụ thể hiến pháp Nhật sau khi được diễn dịch lại đã cho phép Nhật tham gia phòng thủ tập thể ở những nơi lợi ích của Nhật bị đe dọa, đồng thời mở đường cho quân đội Nhật đóng vai trò quốc tế lớn hơn (nhất là trong sứ mệnh hỗ trợ nhân đạo).

Ngoài ra, mặc dù Nhật tiếp tục đề cao hợp tác quân sự với Mỹ thông qua liên minh Mỹ – Nhật, nhưng chính quyền Abe muốn tự chủ lớn hơn và bớt phụ thuộc hơn vào Mỹ về quốc phòng. Dưới thời Abe, Nhật cũng thể hiện xu hướng cứng rắn hơn với Trung Quốc, như quốc hữu hóa quần đảo Senkaku, phản đối và tảng lờ Khu vực nhận diện phòng không (ADIZ) của Trung Quốc thiết lập trên biển Hoa Đông… Nhật cũng tích cực hỗ trợ Philippines và Việt Nam về ngoại giao và an ninh, trong đó tiêu biểu là viện trợ các tàu tuần tra cho Hà Nội và Manila. Dù quy mô viện trợ còn hạn chế do bản thân Nhật cũng đang cần các nguồn lực để đối phó với Trung Quốc trên biển Hoa Đông, nhưng nó cho thấy xu thế ngày càng cứng rắn của Nhật đối với Trung Quốc.

Nay với việc Abe tiếp tục khởi đầu một nhiệm kỳ mới, các chính sách đối ngoại và an ninh mạnh mẽ của ông sẽ hầu như chắc chắn được duy trì và thúc đẩy, đưa Nhật tái trỗi dậy thành một cường quốc “bình thường” với sức ảnh hưởng đồng thời cả về kinh tế lẫn quân sự trong khu vực và trên thế giới.

 

Nga

Sau khi phạm sai lầm vì đã vội vàng sáp nhập Crimea, nước Nga của Putin đã phải vật lộn trong khó khăn để đương đầu với các lệnh trừng phạt của phương Tây, bên cạnh các khó khăn kinh tế chồng chất do giá dầu thế giới giảm và tình trạng rớt giá của đồng Rúp.

Ngoài ra, do bị phương Tây cô lập nên Nga đã tìm cách thắt chặt quan hệ với Trung Quốc, dẫn tới một số lo ngại rằng Trục Bắc Kinh – Moscow sẽ được hình thành nhằm giúp 2 nước đối phó với các áp lực từ Mỹ và phương Tây. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích, bao gồm cả các quan chức Mỹ, đều cho rằng giữa hai nước vẫn còn những khác biệt lớn về sự quan tâm, mục tiêu, lợi ích… nên sự gần gũi gia tăng giữa hai nước thời gian qua chủ yếu mang tính chiến thuật chứ không phải là một liên minh chiến lược lâu dài.

Trong bối cảnh đó, mối bận tâm chính của chính quyền Putin trong thời gian qua cũng như sắp tới chủ yếu là vấn đề Ukraine và quan hệ với phương Tây chứ không phải khu vực Thái Bình Dương. Cụ thể, trước áp lực của phương Tây, khó khăn kinh tế chồng chất và nhất là địa vị “thân cô thế cô”, Nga nhiều khả năng sẽ phải nhún nhường, tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Đông Ukraine và Crimea để dần dần bình thường hóa quan hệ với phương Tây. Tuy nhiên điều này sẽ không đến sớm nếu Tổng thống Putin tiếp tục cầm quyền. Vì vậy, xu hướng chính sách đối ngoại Nga trong thời gian tới sẽ phụ thuộc vào diễn biến chính trị trong nước của Nga, đặc biệt là vị thế của Tổng thống Putin.

 

Hoa Kỳ

Trái với các quan điểm bi quan cho rằng Mỹ đang trượt dài vào thời kỳ suy thoái, sức mạnh kinh tế và quyền lực quốc gia nói chung của Hoa Kỳ vẫn được duy trì và thúc đẩy. Cụ thể, mặc dù một vài ước tính cho rằng GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) của Trung Quốc đã vượt Mỹ trong năm nay, ưu thế về sức năng động – sáng tạo, trình độ công nghệ, sự áp đảo của các công ty đa quốc gia, sự vượt trội về GDP tính theo đầu người… về cơ bản vẫn giúp cho Hoa Kỳ duy trì được khoảng cách xa về kinh tế so với Trung Quốc.

Trong khi triển vọng kinh tế Trung Quốc bắt đầu có dấu hiệu ảm đạm, thì kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng 2,3% năm 2012, 2,2% năm 2013, và dự kiến đạt 2,5% năm 2014, trong khi tỉ lệ thất nghiệp tới tháng 10/2014 đã giảm xuống chỉ còn 5,8%, mức thấp nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và thấp hơn đáng kể so với hầu hết các nước công nghiệp phát triển.

Một đặc điểm nổi bật của kinh tế Mỹ được nhiều người đánh giá cao trong thời gian gần đây là việc ngành sản xuất dầu lửa của nước này đã phát triển mạnh nhờ vào công nghệ khai thác dầu đá phiến (shale). Cụ thể, chỉ trong vòng năm năm, công nghệ này đã đưa sản lượng dầu của Mỹ tăng gần gấp đôi từ mức 5 triệu thùng/ngày năm 2008 lên 9 triệu  thùng vào năm nay.

Nếu xu hướng này tiếp tục thì đến khoảng năm 2020 Mỹ có thể vượt Arab Saudi trở thành nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới. Việc ngành sản xuất dầu phát triển mạnh không chỉ mang lại sự thịnh vượng và tạo công ăn việc làm cho người Mỹ mà còn mang lại cho Mỹ một vũ khí địa chính trị lợi hại, đặc biệt là giúp Mỹ có thể giảm bớt sự chú ý vào khu vực rốn dầu Trung Đông để tập trung vào các khu vực khác.

Về đối ngoại và quân sự, Hoa Kỳ đang giảm dần sự can dự vào khu vực Trung Đông, một phần do sự “mệt mỏi chiến lược” vì những can dự kéo dài nhưng kém hiệu quả ở khu vực này kể từ sau sự kiện 11/9/2001, một phần do tầm quan trọng chiến lược của khu vực có xu hướng giảm sút trong mắt Washington.

Trong khi vẫn phối hợp với EU và các đồng minh trong các vấn đề như Ukraine hay không kích Nhà nước Hồi giáo, Mỹ sẽ tập trung nhiều sự chú ý hơn vào khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nhất là sự trỗi dậy của Trung Quốc, bởi chính Trung Quốc sẽ là vấn đề “sống còn”, là đối thủ duy nhất đủ tầm để có thể lật đổ vị thế siêu cường của Mỹ cũng như trật tự thế giới mà Mỹ dẫn dắt. Trong bối cảnh đó, Mỹ sẽ tiếp tục duy trì chính sách “tái cân bằng” sang khu vực, đồng thời thúc đẩy việc gắn kết, tăng cường sức mạnh của các nước đồng minh và đối tác, biến họ trở thành các quốc gia giàu mạnh và thực sự độc lập để có thể giúp hạn chế bớt ảnh hưởng của Trung Quốc, đồng thời giúp Mỹ có được vị thế tốt hơn nhằm đối phó với sự trỗi dậy ngày càng không êm ả của Bắc Kinh.

Xu hướng địa chính trị khu vực  

Một xu hướng địa chính trị khu vực đang ngày càng trở nên nổi trội, đó chính là việc Mỹ cùng các đồng minh ngày càng bất an trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và việc nước này công khai thách thức trật tự khu vực, nhất là vị thế siêu cường dẫn đầu của Mỹ. Xu hướng này khiến cho khu vực nhiều khả năng sẽ bước vào một cuộc Chiến tranh Lạnh mới trong vòng khoảng 20 năm tới.

Về mặt lý thuyết, nếu Trung Quốc tiếp tục trỗi dậy và thách thức Mỹ, mâu thuẫn và xung đột giữa hai cường quốc là không thể tránh khỏi. Trái với thuyết “cân bằng quyền lực” (balance of power theory) cho rằng hệ thống quốc tế sẽ ổn định và hòa bình khi đạt được sự cân bằng giữa các trung tâm quyền lực chính, thuyết “chuyển giao quyền lực” (power transition theory) cho rằng một khi một cường quốc đang lên tiệm cận sức mạnh của cường quốc thống trị và khao khát giành vị thế bá chủ của cường quốc đó thì xung đột giữa hai bên là không thể tránh khỏi. Chỉ sau khi cường quốc đang lên bị kiềm chế hoặc đánh bại (giữ vững nguyên trạng) hoặc cường quốc bá chủ bị lật đổ (thiết lập nguyên trạng mới) thì hệ thống quốc tế mới lại đạt được thế cân bằng và ổn định. Quy luật này đã được chứng minh nhiều lần trong lịch sử, và sẽ tiếp tục là logic trường tồn của chính trị hiện thực trong quan hệ quốc tế.

Về mặt thực tế, hiện nay cục diện địa chính trị khu vực đang dần đi theo hướng dự báo của thuyết “chuyển giao quyền lực”. Cụ thể, trong khi Trung Quốc (cường quốc đang lên) tìm cách mở rộng ảnh hưởng, tranh giành quyền lực với Mỹ (cường quốc thống trị), thì Mỹ đang âm thầm cố gắng tìm cách kiềm chế Trung Quốc, thông qua các chiến lược tiêu biểu như “tái cân bằng” quân sự sang tây Thái Bình Dương, đàm phán Hiệp định TPP với các nước trong khu vực mà không có sự tham gia của Trung Quốc; cải thiện và thắt chặt quan hệ với các nước đồng minh và đối tác, nhất là các nước láng giềng Trung Quốc; sử dụng các công cụ như luật pháp quốc tế và các thể chế quốc tế để kiềm chế và điều chỉnh hành vi của Bắc Kinh….

Hiện nay, giới chức Mỹ vẫn đang cố gắng thận trọng, tránh “tư duy Chiến tranh lạnh”, trong khi cố gắng can dự với Trung Quốc để xây dựng lòng tin, giảm căng thẳng. Tuy nhiên đây không phải là xu hướng lâu dài mà chỉ là ngắn hạn. Trước mắt Mỹ chưa sẵn lòng mạnh tay kiềm chế Trung Quốc như từng kiềm chế Liên Xô trước đây bởi quan hệ tốt với Trung Quốc đang mang lại cho Mỹ nhiều lợi ích, đồng thời Mỹ cần thêm thời gian để đánh giá xu hướng hành vi của Trung Quốc khi hiện nay Bắc Kinh dù có biểu hiện hung hăng và thách thức lợi ích của Mỹ nhưng sự thách thức đó chưa đủ lớn để đe dọa các lợi ích sống còn, nhất là vị thế bá chủ của Mỹ.

Vì vậy trong tương lai, mức độ kiềm chế của Mỹ và đồng minh đối với Trung Quốc sẽ biến chuyển tùy theo mức độ hung hăng và thách thức mà Trung Quốc theo đuổi trong chính sách đối ngoại của mình. Ngoài ra, về phía Mỹ, nếu trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 một ứng cử viên Cộng hòa đắc cử thì nhiều khả năng Mỹ sẽ có một chính sách đối ngoại cứng rắn hơn, nhất là trong quan hệ với Trung Quốc.

Mặc dù có một khả năng là Trung Quốc do các vấn đề trong nước sẽ bị chững lại, thậm chí rối loại và suy yếu, không thể đủ sức “trỗi dậy” mãi mãi đủ để đe dọa vị thế của Mỹ, nhưng khả năng cao hơn là Trung Quốc sẽ tiếp tục vươn lên, dù chậm dù nhanh, để làm cho Mỹ và đồng minh cảm thấy bất an, lo sợ. Khi đó, một cuộc Chiến tranh lạnh Mới ở khu vực, như đã nói trên, là khó có thể tránh khỏi. Cuộc Chiến tranh lạnh Mới giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ khác với cuộc Chiến tranh lạnh thế kỷ 20 giữa Mỹ và Liên Xô ở 4 điểm chính:

  • Chiến lược chứ không phải ý thức hệ: Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc chủ yếu tập trung vào yếu tố lợi ích chiến lược chứ không phải ý thức hệ. Việc tập hợp lực lượng của hai bên sẽ dựa vào điểm đồng về lợi ích chiến lược chứ không phải ý thức hệ. Đây là đặc điểm chi phối 3 đặc điểm còn lại.
  • Ở cấp độ khu vực chứ không phải toàn cầu: Cuộc Chiến tranh lạnh này sẽ tập trung chủ yếu tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mà ít có khả năng lan rộng ra toàn cầu bởi Trung Quốc không có một hệ thống đồng minh rộng lớn và lợi ích của Mỹ và Trung Quốc không mâu thuẫn lớn ở các khu vực khác.
  • Không phải giữa 2 khối nước cứng nhắc: Khác với Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô khi hai bên dẫn đầu hai khối nước trải khắp 5 châu thì trong Chiến tranh lạnh mới sự đối đầu tập trung chủ yếu vào quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ. Nga, như đã nói ở trên, ít có khả năng tham gia cùng Trung Quốc thành một khối chiến lược để đối đầu với Mỹ và đồng minh.
  • Vai trò của tương thuộc kinh tế: Khác với Chiến tranh lạnh thế kỷ 20, trong cuộc Chiến tranh lạnh mới, sự tương thuộc kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ giúp kiềm chế bớt hành vi của hai bên, giúp hai bên dễ đối thoại với nhau để giải quyết bất đồng. Tuy nhiên do lợi ích địa chính trị được coi trọng hơn lợi ích kinh tế nên sự tương thuộc kinh tế sẽ không đủ ngăn cản Chiến tranh lạnh mới diễn ra. Viễn cảnh khả dĩ nhất là “kinh tế nóng, chính trị lạnh” giữa các cường quốc.

Vậy xu hướng địa chính trị khu vực này sẽ tác động như thế nào tới Việt Nam, và Việt Nam cần phải ứng phó ra sao?

Lựa chọn chiến lược của Việt Nam

“Lời nguyền địa lý” khiến Việt Nam luôn phải đối diện với những thách thức trong xử lý quan hệ với Trung Quốc. Trước một Trung Quốc lớn mạnh hơn nhiều lần, chiến lược Trung Quốc truyền thống của Việt Nam là ngoại giao hòa hiếu, trong đế ngoài vương, nhún nhường với Trung Quốc trong khả năng cho phép để giữ hòa bình và độc lập.

Nếu không có tranh chấp Biển Đông thì Việt Nam hiện nay sẽ có điều kiện thuận lợi hơn nhiều để duy trì một chính sách hòa hiếu cùng mối quan hệ ổn định, tương kính với Trung Quốc. Thế nhưng, với việc Trung Quốc ngày càng thực hiện các chính sách hung hăng và cưỡng ép, mà sự kiện Giàn khoan 981 là ví dụ điển hình, việc duy trì một chính sách ngoại giao hòa hiếu truyền thống như vậy với Trung Quốc đang ngày càng khó khăn, thậm chí phản tác dụng.

Chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc hiện đối mặt với hai lựa chọn căn bản: ưu tiên quan hệ hữu hảo với Trung Quốc hay ưu tiên chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ?

Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước, lựa chọn này luôn được đặt ra cho các nhà cầm quyền Việt Nam, và câu trả lời luôn rõ ràng: Chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích quốc gia tối thượng. Đã có những lúc Việt Nam tỏ ra hòa hiếu, nhún nhường với Trung Quốc, nhưng đó là khi Trung Quốc không trực tiếp đe dọa chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, hoặc sau khi Việt Nam đã đánh bại các cuộc xâm lược của các đội quân phương Bắc (ví dụ, Lê Lợi cấp thuyền và ngựa cho lính nhà Minh rút quân về nước, Nguyễn Huệ cho chôn cất tử tế lính nhà Thanh tử trận, gửi sứ thần sang nhận sắc phong và “tạ tội” với hoàng đế nhà Thanh…). Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam lại nhún nhường, mềm yếu trước Trung Quốc khi Trung Quốc tìm cách xâm lược hoặc cưỡng ép, đe dọa… Việt Nam.

Hiện nay, đương nhiên chúng ta vẫn luôn coi chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích tối thượng. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần xác định Trung Quốc đang đe dọa Việt Nam đến mức nào để quyết định nên hòa hiếu, nhún nhường, hay cứng rắn với Trung Quốc. Nếu mối đe dọa Trung Quốc chưa lớn mà chúng ta quá cứng rắn thì sẽ gây căng thẳng không cần thiết, ngược lại nếu mối đe dọa lớn mà chúng ta nhún nhường, mềm yếu sẽ càng khuyến khích Trung Quốc lấn tới, làm phương hại lợi ích quốc gia.

Trong thời gian qua, xu hướng mối đe dọa từ Trung Quốc đang gia tăng là rõ ràng. Đặc biệt trong vấn đề Biển Đông, một loạt các hành động của Trung Quốc từ năm 2007 đến nay càng cho thấy rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Các hành động như cắt cáp tàu Bình Minh 02, đưa giàn khoan 981 cùng lực lượng hộ tống hùng hổ vào vùng biển Việt Nam, xây dựng và mở rộng đảo nhân tạo… cho thấy cường độ hung hăng của Trung Quốc ngày càng tăng, và chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên Biển Đông đang bị đe dọa hơn bao giờ hết.

Trong tương lai gần, việc Trung Quốc đưa các giàn khoan xuống Trường Sa và bãi Tư Chính, thiết lập ADIZ trên Biển Đông, tăng cường quân sự hóa các điểm chiếm đóng, thậm chí tìm cách khống chế các tuyến đường biển của Việt Nam hay xâm lược các đảo của Việt Nam đang nắm giữ… là những khả năng không thể bị loại bỏ, nếu không muốn nói đó chỉ là vấn đề thời gian.

Trong bối cảnh đó, ngoài việc nâng cao nội lực về kinh tế, quốc phòng, xây dựng sự đoàn kết và đồng thuận trong cũng như ngoài nước, Việt Nam cần tranh thủ tận dụng các diễn biến địa chính trị khu vực để nâng cao vị thế chiến lược của mình, góp phần kiềm chế tham vọng của Trung Quốc. Đặc biệt việc mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc đang dần gia tăng đang tạo cơ hội cho Việt Nam tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước đồng minh và đối tác của Mỹ, nhất là những nước có chung nhận thức về mối đe dọa và lợi ích trên Biển Đông.

Vì vậy, như tác giả bài viết từng đề xuất, trong khi vẫn duy trì nguyên tắc “ba không” trên danh nghĩa, Việt Nam cần từng bước thắt chặt quan hệ chiến lược – an ninh với các quốc gia chủ chốt trong khu vực dưới dạng các “liên minh” mềm, không chính thức, đặc biệt là với Hoa Kỳ và Nhật Bản, để có thể nâng cao vị thế chiến lược của mình trong quan hệ với Trung Quốc, nhất là trên hồ sơ Biển Đông.

Như đã lập luận trước đây, tranh chấp Biển Đông hiện tại gồm ba tầng nấc, với tầng nấc ngoài cùng đang trở nên ngày càng quan trọng là sự cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này biến Biển Đông trở thành một trong những “chiến trường” cho sự đối đầu giữa hai cường quốc. Một câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh đó, Việt Nam có nên can dự vào cuộc đối đầu này để rồi trở thành “nạn nhân” của một cuộc đấu đá giữa các cường quốc hay không?

Một điều chúng ta phải chấp nhận đối mặt là với vị trí địa lý của mình, đặc biệt là do sự tham gia của chúng ta vào tranh chấp Biển Đông với các lợi ích đan xen, chồng chéo, chúng ta không thể và không nên đứng ngoài các diễn biến địa chính trị khu vực. Nói cách khác, làm sao để Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi cuộc đối đầu đang tăng cường giữa Mỹ và Trung Quốc là một nhiệm vụ bất khả thi. Điều chúng ta có thể làm chỉ là làm sao hạn chế được tối đa các tác động tiêu cực của cuộc đối đầu này lên chúng ta mà thôi.

Để làm được điều này, không có cách nào khả dĩ hơn việc chúng ta chủ động can dự vào các diễn biến địa chính trị khu vực, góp phần định hình các diễn biến đó (nếu có thể), hoặc ít nhất nắm bắt được các thông tin, diễn biến, can dự vào ý đồ của các cường quốc để không phải trở thành kẻ ngoài lề, bị động đối phó, và rốt cuộc sẽ trở thành “nạn nhân” bị đem ra mặc cả trong ván cờ giữa các nước lớn như đã từng xảy ra trong lịch sử.

Hiện tại, trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam có hai vũ khí quan trọng có thể khiến Trung Quốc e sợ, đó là các lựa chọn pháp lý và việc theo đuổi chính trị liên minh. Tuy nhiên, trong khi phát súng pháp lý chưa thật sự sẵn sàng và một khi bắn ra sẽ không thể thu hồi lại, thì theo đuổi chính trị liên minh là một biện pháp linh hoạt và hiệu quả hơn mà Việt Nam có thể thực hiện để răn đe Trung Quốc.

Thứ nhất, biện pháp này đánh vào tâm lý sợ bị bao vây, “ngăn chặn” của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không bao giờ muốn Việt Nam ngã vào tay một cường quốc đối địch, vì vậy nếu Việt Nam dịch chuyển theo hướng chính trị liên minh thì Trung Quốc sẽ phải cân nhắc trong hành động để không đẩy Việt Nam ra quá xa.

Thứ hai, chính trị liên minh không phải là một con đường một chiều. Cách dễ nhất để hình dung chính trị liên minh là một đường trục với hai thái cực đối diện, một thái cực (-1) là phù thịnh (bandwagoning), đi theo đối thủ, và thái cực còn lại (+1) là tham gia liên minh quân sự để cân bằng (balancing) lại đối thủ. Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam lý tưởng nhất là ở vị trí cân bằng (0), tuy nhiên tùy theo diễn biến quan hệ song phương và bối cảnh khu vực, chúng ta có thể điều chỉnh vị trí của mình trong khoảng từ -1 đến +1 cho phù hợp. Ví dụ, nếu Trung Quốc hung hăng, hiếu chiến, Việt Nam có thể điều chỉnh dần sang vị trí  +1, nhưng nếu Trung Quốc ôn hòa, xuống nước, Việt Nam có thể điều chỉnh dần về vị trí số 0. Như vậy chúng ta không nên lo sợ phá vỡ quan hệ với Trung Quốc vì chúng ta có thể điều chỉnh tùy theo tình hình. Điều chúng ta phải lo sợ hơn là mất lãnh thổ, thứ một khi đã rơi vào tay người khác sẽ khó có thể đòi lại được.

Thứ ba, do có sự linh hoạt như trên, nên Việt Nam nếu khéo léo có thể điều chỉnh từng bước đi trong chính trị liên minh để đáp lại các hành động của Trung Quốc. Trước mắt, nếu Trung Quốc tiếp tục đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, chúng ta có thể áp dụng lại chiến thuật như vừa qua, kiềm chế và kiên nhẫn đấu tranh để Trung Quốc rút, phục hồi nguyên trạng. Tuy nhiên nếu Trung Quốc lặp đi lặp lại hoặc leo thang, ví dụ không rút giàn khoan, đưa giàn khoan xuống khu vực Trường Sa/ Tư Chính, thiết lập ADIZ trên Biển Đông, hay thậm chí xâm lược các vị trí Việt Nam đang nắm giữ, thì Việt Nam cần ứng phó ra sao? Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần phải có các bước chuẩn bị để khi Trung Quốc đi một nước cờ thì Việt Nam có thể đi được một nước tương ứng để đáp lại, tránh tình trạng Trung Quốc leo thang nhưng Việt Nam chỉ có một bài để đấu tranh. Với các nấc thang khác nhau như đã kể trên, chính trị liên minh giúp Việt Nam dự liệu trước các quân bài khác nhau để đối phó với Trung Quốc, bên cạnh chuyện đấu tranh trên thực địa.

Như vậy, trước bối cảnh Trung Quốc ngày càng có các hành động hung hăng mang  tính cưỡng bức trên Biển Đông, Việt Nam cần tận dụng các biến đổi địa chính trị khu vực để giành thế chiến lược có lợi cho mình. Trước mắt, Việt Nam cần thực hiện một số các biện pháp như cảnh báo Trung Quốc về hậu quả chiến lược nếu  tiếp tục có cách hành động cưỡng bức hoặc leo thang tranh chấp; làm việc cùng các quốc gia đối tác quan trọng (đặc biệt là Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Philippines) để lập kế hoạch tăng cường các mối quan hệ song phương, nhất là trong lĩnh vực an ninh – quốc phòng, đồng thời lập kế hoạch các bước đi và nấc thang tiếp theo mà Việt Nam cần thực hiện để đáp lại các hành động gây hấn mới hoặc leo thang tranh chấp trên Biển Đông của Trung Quốc.

Tóm lại, Việt Nam chỉ có thể hòa hiếu với Trung Quốc nếu Trung Quốc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nếu Trung Quốc dùng bạo quyền để cưỡng bức thì chúng ta không thể mềm yếu để rồi mãi mãi đánh mất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ vì một thứ “hữu nghị viễn vông”.

Trong khi tìm mọi cách cố gắng duy trì quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và tương kính với Trung Quốc, chúng ta cũng nên sẵn sàng theo đuổi các mối quan hệ liên minh với các đối tác ở các lĩnh vực và mức độ khác nhau để đối phó với các mối đe dọa trên Biển Đông. Theo nghĩa đó, liên minh không nên được hiểu là đi với nước này để chống nước kia, mà là đi với nước nào để chúng ta có thể bảo vệ được tốt nhất lợi ích quốc gia của mình.

Lê Hồng Hiệp, vừa hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia, Canberra, là giảng viên tại Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học KHXH&NV TPHCM, và là biên tập viên sáng lập và điều hành trang mạng Nghiencuuquocte.net.

Bài liên quan:

—————

[1] Việc tăng thuế tiêu dùng (có tác động giảm phát) dựa trên cơ sở rằng trước đó hai mũi tên mở rộng tài khóa và nới lỏng tiền tệ (có tác dụng gây lạm phát) đã được thực hiện, nên sẽ không gây ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế. Ngoài nguyên nhân chính là tăng thuế tiêu dùng thì các vấn đề như cải cách cơ cấu chậm có tác dụng, đồng yen yếu làm tăng chi phí nhập khẩu đầu vào sản xuất và cơ cấu dân số bất lợi đều tác động tiêu cực tới kinh tế Nhật trong năm 2014.

[2] Hầu như chắc chắn liên minh giữa LDP và Đảng Công minh (Komeito) sẽ tiếp tục. Trong bầu cử, LDP giành 291 ghế, Keomeito giành 35 ghế, tổng cộng là 326/475 (68,63%) ghế.

– See more at: http://nghiencuuquocte.net/2014/12/28/song-ngam-dia-chinh-tri-khu-vuc-va-lua-chon-cua-viet-nam/#sthash.TXusCnKZ.dpuf

Biển Đông: Thế trận đảo nhân tạo Trung Quốc đe dọa Việt Nam

 

RFI, Thứ hai, ngày 02 tháng ba năm 2015
Biển Đông: Thế trận đảo nhân tạo Trung Quốc đe dọa Việt Nam

Ảnh chụp Đá Ga Ven vào ba thời điểm khác nhau cho thấy quy mô và tiến độ công việc bồi đắp và xây dựng của Trung Quốc. CNES 2014/ Distribution Airbus DS/IHS

 

Vào lúc châu Á, trong đó có Việt Nam, đang chuẩn bị ăn Tết Ất Mùi, chuyên san quốc phòng Jane’s Defence Weekly ngày 15/02/2015 đã tung ra “một quả bom” :  Một loạt ảnh vệ tinh – mà bức mới nhất chụp vào hạ tuần tháng Giêng 2015 – cho thấy quy mô to lớn và tốc độ nhanh chóng của công việc bồi đắp các bãi ngầm hay rạn san hô mà Trung Quốc đang kiểm soát tại quần đảo Trường Sa (Biển Đông).

Yếu tố mới nhất được chuyên san Jane’s Defence nêu bật để minh họa cho cơn sốt xây dựng của Trung Quốc tại Biển Đông, là công trình bồi đắp và xây dựng trên đá Tư Nghĩa (Hughes Reef), bị chiếm từ năm 1988, biến bãi ngầm chỉ rộng 380m2 này thành một đảo lớn rộng 75.000m2 !

Hoạt động của Trung Quốc lập tức thu hút sự chú ý của các nước, đặc biệt là Hoa Kỳ – từng chính thức kêu gọi tất cả các bên tranh chấp Biển Đông đình chỉ mọi hoạt động bồi đắp, xây dựng mới trong vùng, làm cho tình hình thêm căng thẳng – và Philippines, quốc gia Đông Nam Á đã nhiều lần công khai tố cáo hành động « cải tạo địa hình » của Trung Quốc tại Trường Sa.

Nghiên cứu các bức ảnh vệ tinh mới chụp vào tháng Giêng 2015, và so sánh với các bức chụp trước đó, các chuyên gia phân tích cho rằng Trung Quốc đang rốt ráo thay đổi hiện trạng Biển Đông, xây dựng cơ sở nhằm làm bàn đạp khống chế toàn bộ Biển Đông, đặt các nước khác trước một « sự đã rồi » mới.

Hành động lấn lướt trên hiện trường này đã đi ngược lại tất cả những tuyên bố hòa dịu mà giới lãnh đạo Trung Quốc không ngừng đưa ra, đặc biệt là từ cuối năm 2014 đến nay, trong đó có thông điệp được nhắc đi nhắc lại là cần phải thực thi nghiêm túc Bản Tuyên bố Ứng xử về Biển Đông DOC ký kết năm 2002 giữa Trung Quốc và Hiệp hội Đông Nam Á ASEAN.

Bày binh bố trận trên Biển Đông

Đối với giới phân tích, Trung Quốc quả đang đẩy nhanh việc bày binh bố trận ở vùng Biển Đông, với mục tiêu là dùng sức mạnh áp đặt các yêu sách lãnh thổ cực lớn của Bắc Kinh tại vùng này, phớt lờ tuyên bố chủ quyền của các láng giềng từ Việt Nam, Philippines, cho đến Malaysia, Brunei, hay Đài Loan.

Theo hãng tin Anh Reuters ngày 20/02, « Trung Quốc đang dồn uy lực đáng kể xuống Biển Đông ». Báo Mỹ Wall Street Journal ngày 18/02 cũng ghi nhận : « Trung Quốc mở rộng công việc xây cất tại vùng Biển Đông đang tranh chấp… Việc bồi đắp đảo nhân tạo cho thấy Bắc Kinh không từ bỏ tham vọng lãnh thổ ».

Phi đạo và cơ sở có thể dùng vào mục tiêu quân sự

Căn cứ vào ảnh vệ tinh chụp được, trận đồ mà Trung Quốc đang bố trí tại Biển Đông được thấy rất rõ, liên kết quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã chiếm trọn và bồi đắp từ lâu, với một hệ thống 7 bãi đá, rạn san hô tại quần đảo Trường Sa mà Trung Quốc đã lấy từ tay Việt Nam và Philippines, và đang cấp tốc cải tạo : Đá Tư Nghĩa (Hughes Reef), Đá Gạc Ma (Johnson South Reef), Đá Ga Ven (Gaven Reef), Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef), Đá Châu Viên (Cuarteron Reef), Đá Én Đất (Eldad Reef) và Đá Vành khăn (Mischief Reef).

Tại Hoàng Sa – chiếm trọn từ tay Việt Nam năm 1974 – Bắc Kinh đã cải tạo bồi đắp đảo chính Phú Lâm (Woody Island), và từ lâu rồi, đã cho xây trên đó một phi đạo dài 2,7 km. Còn tại vùng Trường Sa, theo ảnh vệ tinh vừa chụp được, thì Bắc Kinh đang xây trên Đá Chữ Thập một đường băng dài 3 km, và có thể sắp hoàn thành một phi đạo có độ dài tương tự trên Đá Gạc Ma, chiếm vào năm 1988.

So sánh với các phi đạo của Trung Quốc, thì rõ ràng các đường băng hiện hữu – 1,2 km trên đảo Ba Bình (Itu Aba) ở Trường Sa do Đài Loan kiểm soát, khoảng 0,7 km của Việt Nam trên đảo Trường Sa Lớn, hay 1,3 km của Philippines trên đảo Thị Tứ (Thitu Island) – chẳng thấm vào đâu.

Bên cạnh các phi đạo, ảnh vệ tinh chụp các đảo nhân tạo trên đường hình thành của Trung Quốc đều cho thấy các công trình rộng lớn có thể dùng làm nhà kho, trại lính, bệ đặt radar, hệ thống phòng không, bãi đáp trực thăng…, tóm lại đủ loại cơ sở có thể được dùng vào mục tiêu quân sự.

Đối với Việt Nam, sự kiện Trung Quốc bày binh bố trận với bảy hòn đảo nhân tạo tại Trường Sa dĩ nhiên đặt ra rất nhiều mối đe dọa, đòi hỏi chính quyền Việt Nam phải tìm ra đối sách. Để hiểu rõ thêm về các nguy cơ đang rình rập Việt Nam tại Biển Đông, RFI đã đặt một số câu hỏi cho Giáo sư Carlyle Thayer, thuộc Học viện Quốc phòng Úc.

Trung Quốc vẽ lại ranh giới địa lý vùng Đông Nam Á

Trước hết, như nhiều chuyên gia phân tích khác, Giáo sư Thayer công nhận mình hết sức bất ngờ trước tốc độ và cường độ của các công trình do Trung Quốc tiến hành, như chuyên san quốc phòng Jane’s Defence đã tiết lộ. Trả lời RFI qua thư điện tử, ông xác định :

Thayer : Các hành động của Trung Quốc đã khiến tôi rất ngạc nhiên. Cho đến cuối năm ngoái (2014), hầu hết các báo cáo về hoạt động của Trung Quốc chỉ nêu bật các hoạt động xây dựng với quy mô tương đối nhỏ.
Nhưng từ năm 2014 trở đi, quy mô và tốc độ của các hoạt động cải tạo đất của Trung Quốc đã trở nên rất ngoạn mục.

Đối với Giáo sư Thayer, việc Trung Quốc xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa sẽ xác lập sự hiện diện của Trung Quốc ngay tại trung tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, và mặc nhiên « vẽ lại ranh giới địa lý » của khu vực :

Thayer : Các hoạt động bồi đắp đảo, đá của Trung Quốc để tạo ra các hòn đảo nhân tạo rất bạo về quan niệm chiến lược. Chúng củng cố các nỗ lực của Trung Quốc nhằm đòi chủ quyền trên toàn bộ các đảo, đá và các thực thể khác ở Biển Đông và “vùng biển tiếp giáp” được gộp trong yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc.

Việc tạo ra các hòn đảo nhân tạo sẽ thiết lập sự hiện diện của Trung Quốc ở ngay vùng trung tâm của Biển Đông, qua đó vẽ lại ranh giới địa lý của khu vực Đông Nam Á.

Năm 1995, khi thông qua Hiệp ước Khu vực Đông Nam Á không có Vũ khí hạt nhân (SEANWFZ), ASEAN đã xác định phạm vi địa lý của Đông Nam Á là “khu vực bao gồm các vùng lãnh thổ của tất cả các Quốc gia ở Đông Nam Á cụ thể là Brunei Darussalam, Cam Bốt, Indonesia , Lào, Malaysia, Miến Điện, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam, và các vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của các Quốc gia này… ‘lãnh thổ’ là lãnh thổ trên bộ, nội thủy, lãnh hải, vùng nước quần đảo, đáy biển và phần đất dưới đáy biển đó và vùng trời bên trên các phần nêu trên“. (Người trích nhấn mạnh).

Từ đó đến nay, Trung Quốc đã mở rộng quyền kiểm soát của họ trên khu vực Biển Đông, sử dụng tàu chấp pháp để sáp nhập bãi Scarborough Shoal, phong tỏa – hiểu theo nghĩa quân sự – Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal), và đưa đội tàu đánh cá của họ xa xuống phía nam, đến tận các vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia và Indonesia ngoài Việt Nam và Philippines.

Theo Giáo sư Thayer, Việt Nam cũng đã xây dựng cơ sở hạ tầng trên các rạn san hô mà mình kiểm soát. Tuy nhiên, điều Việt Nam đã làm không vi phạm Bản Tuyên bố Ứng xử về Biển Đông DOC, trái với những gì Trung Quốc đang làm. Mặt khác, về quy mô, những gì Việt Nam đã làm chẳng thấm vào đâu so với các công trình của Trung Quốc :

Thayer : Việt Nam đã bắt đầu xây dựng trên đảo Trường Sa Lớn và các thực thể khác mà họ kiểm soát, từ trước khi Bản Tuyên bố năm 2002 về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) được thông qua. Phi đạo trên Trường Sa Lớn dài 700 mét. Việt Nam cũng đã xây dựng một số công trình phòng thủ nhỏ trên một vài thực thể địa lý dưới quyền kiểm soát của mình.
Bản Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông DOC không cấm các hoạt động như vậy. Điều 5 của DOC ghi nhận : “Các bên liên quan cam kết tự kiềm chế không tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng các tranh chấp và ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định, kể cả không tiến hành các hoạt động đưa người đến sinh sống trên các đảo, bãi đá ngầm, bãi cát ngầm, dải đá ngầm và những cấu trúc khác hiện chưa có người sinh sống và xử lý các bất đồng một cách xây dựng”. (Người trích nhấn mạnh).

Các nhà phân tích cho rằng diện tích một trong những hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc sẽ vượt quá hòn đảo lớn nhất, Itu Aba hay Ba Bình/Thái Bình, đang do Đài Loan chiếm đóng. Đảo của Trung Quốc sẽ có một chức năng kép vừa dân sự, vừa quân sự. Bến tàu trên các hòn đảo này sẽ hỗ trợ các hộ tống-khu trục hạm của Hải quân Trung Quốc. Những hòn đảo này cũng sẽ là nơi đặt các thiết bị giám sát bao gồm trạm radar, và các phương tiện tình báo điện tử.

Quy mô của các hoạt động bồi đắp, xây dựng của Trung Quốc to lớn đến mức mà các thực thể Việt Nam đang chiếm đóng chẳng thấm vào đâu. Hành động của Trung Quốc là một vi phạm Bản Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) về mặt từ ngữ nếu chưa muốn nói là tinh thần.

Áp đặt chủ quyền bằng đe dọa quân sự và né tránh luật quốc tế

Theo Giáo sư Thayer, các hoạt động cải tạo đất đai của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ cho phép Bắc Kinh áp đặt quyền kiểm soát quân sự trong khu vực, giám sát dễ dàng mọi hoạt động của hải quân và không quân nước khác :

Thayer : Mục tiêu chiến lược tối hậu của Trung Quốc là áp đặt chủ quyền và qua đó là quyền kiểm soát quân sự trên Biển Đông để bảo vệ các tuyến đường giao thông trên biển và làm tăng nguy cơ đối với các lực lượng hải quân nước ngoài, đặc biệt là Hải quân Hoa Kỳ, khi phải hoạt động trong một vùng biển nửa kín.

Đảo nhân tạo của Trung Quốc sẽ được liên kết với các thực thể địa lý khác mà Bắc Kinh đang trấn giữ, để cung cấp cho họ những cảnh báo sớm về hoạt động của các lực lượng hải quân và không quân ngoại quốc.

Ở mức tối thiểu, các hòn đảo nhân tạo sẽ trở thành cơ sở tiền phương phục vụ các lợi ích thương mại của Trung Quốc, chẳng hạn như đánh bắt thủy sản và khai thác dầu khí, cũng như cho các cơ quan thực thi luật hàng hải khác nhau của Trung Quốc. Các cơ quan này sẽ tiến được gần hơn đến các điểm nóng tiềm tàng, đồng thời có vị trí tốt để hù dọa và thúc ép cảnh sát biển của các nước khác trong khu vực.

Những hòn đảo nhân tạo sẽ cung cấp một hàng rào chống lại bất kỳ kết quả bất lợi nào của Tòa án Trọng tài Quốc tế hiện đang xem xét đơn kiện của Philippines chống lại Trung Quốc. Đảo nhân tạo không nằm trong phạm vi thủ tục pháp lý đang tiến hành.

Mục tiêu quan trọng nhất của Trung Quốc là áp đặt trên thực tế quyền kiểm soát Biển Đông bằng cách né tránh những hạn chế của luật pháp quốc tế. Tám trong số mười quốc gia Đông Nam Á sẽ bị buộc phải đối phó với thực tế mới là phải chia sẻ một đường biên giới biển với Trung Quốc hoặc là chấp nhận việc Trung Quốc phát huy quyền kiểm soát toàn vùng biển Đông Nam Á.

Đe dọa quân sự rất lớn cho Việt Nam tại Biển Đông

Đối với Việt Nam, hệ thống đảo nhân tạo của Trung Quốc đặt ra rất nhiều mối đe đe dọa, trong đó có nguy cơ Bắc Kinh dễ dàng tấn công đánh chiếm các hòn đảo do Việt Nam trấn giữ mà khiến lực lượng Việt Nam trở tay không kịp :

Thayer : Trước hết, các hành động của Trung Quốc đặt ra một mối đe dọa gián tiếp đối với Việt Nam bằng cách cô lập Việt Nam thông qua việc hù dọa và làm nản chí các thành viên ASEAN khác, để các nước này không có bất kỳ hành động chính trị và ngoại giao nào chống lại Trung Quốc.

Thứ hai, đảo nhân tạo của Trung Quốc mở rộng tầm với của Bắc Kinh  – cả về thương mại lẫn quân sự – xuống tận phía Nam của Biển Đông. Trung Quốc sẽ có thể chủ động hành sự, hay phản ứng trước các sự cố nẩy sinh tại chỗ một cách nhanh chóng hơn nhiều so với trước đây. Việt Nam sẽ còn ít thời gian chuẩn bị hơn để đáp trả.

Chẳng hạn như Trung Quốc có thể khởi động một chiến dịch phong tỏa các đảo đá mà Việt Nam đang kiểm soát tại Biển Đông, hoặc là bất ngờ đánh chiếm những tiền đồn nhỏ của Việt Nam mà Việt Nam không kịp báo động. Lực lượng Trung Quốc có thể duy trì các hành động trong khoảng thời gian dài hơn nhờ vật tư, nhiên liệu lưu trữ sẵn trên các hòn đảo nhân tạo, cũng như thông qua các cơ sở bảo trì, sửa chữa cũng như y tế đã xây dựng.

Một cách đối phó : Áp dụng chiến lược ‘áp đặt cái giá phải trả’

Theo Giáo sư Thayer, để đối phó với Trung Quốc, Việt Nam vừa phải vận động ASEAN và quốc tế, vừa phải quyết tâm liên kết với Hoa Kỳ và các cường quốc trên biển khác để buộc Bắc Kinh phải trả giá nếu manh động :

Thayer : Thẳng thắn mà nói, cả Việt Nam lẫn cộng đồng quốc tế đều khó có thể làm gì để ngăn không cho Trung Quốc tiếp tục công việc bồi đắp và xây dựng trên các hòn đảo nhân tạo.

Tuy nhiên Việt Nam có thể cố gắng tác động đến ý định của Trung Quốc thông qua các hoạt động ngoại giao mạnh mẽ ở cấp độ song phương và đa phương. Giới lãnh đạo Việt Nam cần thẳng thắn nêu bật vấn đề này với đối tác Trung Quốc. Việt Nam cần huy động sự trợ giúp từ khối ASEAN và từ cộng đồng hàng hải quốc tế. Điều tốt nhất mà các nỗ lực này có thể đạt được là thuyết phục được Trung Quốc hành động với sự tự kiềm chế và minh bạch hơn về ý định của mình.

Việt Nam có thể làm việc chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ và các cường quốc hàng hải khác để áp dụng một loạt “chiến lược áp đặt cái giá phải trả” (Cost-imposition strategy) trên Trung Quốc. Những chiến lược áp đặt giá phải trả khả dĩ thực hiện được đã được Trung tâm vì An ninh Mới của Mỹ (Center for a New American Security) tại Washington DC phát triển.

Nói chung, chiến lược này nhằm chứng minh cho Trung Quốc thấy rằng các hành động của họ sẽ tạo ra phản ứng ngược lại từ phía các quốc gia khác, khiến cho Trung Quốc khó mà tiếp tục con đường hiện tại, phải cân nhắc hơn thiệt về các hành động của họ.

Một câu hỏi được đặt ra là sau khi chuyên san quốc phòng Jane’s Defence công bố thông tin về tầm mức nghiêm trọng của các hoạt động bồi đắp đảo nhân tạo do Trung Quốc tiến hành tại Biển Đông, Việt Nam hầu như không có phản ứng. Theo Giáo sư Thayer, đó có thể là vì Việt Nam đang bắt cá hai tay :

Thayer : Việt Nam đang cố gắng bắt cá hai tay, vừa muốn có quan hệ tốt với Trung Quốc, vừa muốn bảo vệ chủ quyền của mình ở Biển Đông. Hai mong muốn này không tương thích với nhau.

Quan hệ tốt với Trung Quốc có nghĩa là thỏa hiệp với Bắc Kinh bằng cách tạo ra một tạm ước (modus vivendi) nhằm duy trì nguyên trạng. Trung Quốc sẽ đòi Việt Nam phải từ bỏ chủ quyền của mình đối với quần đảo Hoàng Sa.

Việt Nam chỉ có thể bảo vệ các tuyên bố chủ quyền của mình ở Biển Đông thông qua việc xây dựng sức mạnh quân sự của mình để ngăn chặn Trung Quốc, và phát triển quan hệ quốc phòng với các đối tác chiến lược đáng tin cậy. Việt Nam đã quyết định theo đuổi việc xây dựng sức mạnh quốc phòng của mình, nhưng lại chưa dứt khoát trong việc phát triển quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ.

Hệ quả của mong muốn bắt cá hai tay này là Việt Nam lúc này thì chạy theo quan hệ tốt với Trung Quốc, rồi lúc khác thì lại theo đuổi việc bảo vệ các tuyên bố chủ quyền của mình.

Hiện nay Việt Nam đang theo đuổi việc duy trì quan hệ tốt với Trung Quốc, do đó đã giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của các hoạt động cải tạo đảo đá của Trung Quốc tại Biển Đông.


Cùng chủ đề

  • TRUNG QUỐC – BIỂN ĐÔNG

    Bồi đắp đảo nhân tạo tại Trường Sa : Ba ý đồ của Trung Quốc

    Để biết thêm

  • PHILIPPINES – TRUNG QUỐC

    Manila phản đối Bắc Kinh bồi đắp đảo Đá Vành Khăn, Trường Sa

    Để biết thêm

  • BIỂN ĐÔNG – CHỦ QUYỀN

    Ảnh vệ tinh vạch trần việc Trung Quốc cải tạo đảo đá ở Trường Sa

    Để biết thêm

  • BIỂN ĐÔNG

    Trung Quốc nhận chìm hồ sơ Biển Đông tại Hội nghị Quốc phòng ASEAN

Mỹ: Trung Quốc xây Vạn lý Trường Thành trên Biển Đông“,
VOA, 02 tháng 4 năm 2015.

Tư Lệnh lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ, Đô Đốc Harry Harris Jr., khẳng định chính sách tái cân bằng lực lượng sang khu vực Thái Bình Dương của chính phủ Mỹ đang đi đúng hướng (Nguồn: WSJ, Worldpress)

Tư Lệnh lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ, Đô Đốc Harry Harris Jr., khẳng định chính sách tái cân bằng lực lượng sang khu vực Thái Bình Dương của chính phủ Mỹ đang đi đúng hướng (Nguồn: WSJ, Worldpress)

Mỹ: Trung Quốc xây Vạn lý Trường Thành trên Biển Đông

VOA, 02.4. 2015

Các công trình lắp đất xây đảo nhân tạo của Trung Quốc trong Biển Đông đã khiến người ta hoài nghi về các ý đồ của Trung Quốc, và tự hỏi liệu Bắc Kinh thực sự muốn hợp tác hay là có ý định đối đầu với các cường quốc khác trong khu vực.

Đó là lời bình luận của Tư Lệnh lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ, bày tỏ quan tâm về việc Trung Quốc đang xây điều mà ông miêu tả là một bức “Vạn lý Trường Thành bằng Cát” trên Biển Đông.

Báo The Wall St. Journal hôm 31 tháng Ba tường thuật rằng trong một phát biểu công khai, trực tiếp chỉ trích các công trình xây cất của Trung Quốc tại quần đảo Trường Sa, Tư Lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương, Đô Đốc Harry Harris Jr., nói Bắc Kinh đang xây “một vạn lý trường thành” trên vùng biển đang trong vòng tranh chấp.

Đô Đốc Harris được trích lời nói rằng: “Khi xét toàn diện các hành động khiêu khích của Trung Quốc đối với các nước giành chủ quyền nhỏ hơn, sự thiếu minh bạch của cái đường 9 đoạn và tình trạng bất cân xứng giữa khả năng của Trung Quốc so với các nước láng giềng nhỏ – thì thật không đáng ngạc nhiên là quy mô của các công trình xây các đảo nhân tạo đặt ra những nghi vấn nghiêm trọng về ý đồ của Trung Quốc.”

Ông cho rằng cái đường 9 đoạn mà Trung Quốc vạch ra để đòi chủ quyền trên hầu hết Biển Đông, không phù hợp với luật quốc tế,  Ông nói việc Trung Quốc xúc tiến các hoạt động cải tạo các bãi đá với quy mô chưa từng thấy trước đây là điều “rất đáng lo ngại”.

Australia, một đồng minh lâu năm của Mỹ, cũng bày tỏ quan tâm và năm ngoái, chính phủ Úc ký hiệp định củng cố hợp tác quân sự với Nhật Bản như một cách để tăng khả năng quốc phòng trước sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc.

Tư Lệnh lực lượng Thái Bình Dương của Mỹ khẳng định chính sách tái cân bằng lực lượng sang khu vực Thái Bình Dương của chính phủ Mỹ đang đi đúng hướng trong mục tiêu chuyển 60% lực lượng sang Á Châu-Thái Bình Dương trước năm 2020. Washington đã điều tàu đổ bộ mới nhất của Hải quân Hoa Kỳ, chiếc USS America sang khu vực. Đây là một tàu đổ bộ được thiết kế để chở một số lượng lớn binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến phục vụ các nhiệm vụ quân sự và cứu trợ nhân đạo. Tàu có bãi đáp cho các loại chiến đấu cơ và máy bay trực thăng.

Đô đốc Harris Jr. kêu gọi tất cả các bên liên quan phải tuân thủ Tuyên bố về cách ứng xử trên Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc đã ký với ASEAN, cam kết sẽ kiềm chế các hoạt động “gây phức tạp hay làm leo thang căng thẳng trong khu vực”.

Tư Lệnh lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương nói bằng cách duy trì sự hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực, trong tình huống khủng hoảng xảy ra, “Mỹ có thể dễ dàng điều lực lượng Hải quân có khả năng ứng phó nhanh tới nơi, hầu duy trì tình trạng an ninh và ổn định khu vực.”

 

Nguồn: WSJ, Worldpress

 


Releted

Số lần xem trang : 2649
Nhập ngày : 06-04-2015
Điều chỉnh lần cuối : 21-04-2015

Ý kiến của bạn về bài viết này


In trang này

Lên đầu trang

Gởi ý kiến

  Văn hóa và Giáo dục

  Ngày xuân đọc Trạng Trình(28-01-2017)

  Quả táo Apple Steve Jobs(08-01-2017)

  Nguyễn Du 250 năm nhìn lại(05-01-2017)

  Việt Nam Hồ Chí Minh(04-09-2015)

  Giáo sư Mai Văn Quyền người Thầy nghề nông(15-01-2016)

  Những người Việt lỗi lạc ở FAO(09-09-2015)

  Dưới đáy đại dương là Ngọc(06-07-2015)

  Từ Mekong nhớ Neva(25-07-2015)

  Anh theo em về miền Tây(06-07-2015)

  Nhân vật lịch sử vĩ đại nhất nước Nga(03-06-2015)

Trang kế tiếp ... 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22

Hoàng Kim, Khoa Nông Học, Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM,ĐTDĐ:0903 613024,Email:hoangkim.vietnam@gmail.com, hoangkim@hcmuaf.edu.vn

Thiết kế: Quản trị mạng- ĐHNL 2007