Trang chủ NLU| KhoaNôngHọc| Mụclục Hoàng KimLong| Tình yêu cuộc sống | CNM365| Khát khao xanh | Dạy và học | Cây Lương thực | FoodCrops| HK1| HK2| HK3| HK4| HKWiki| Violet| FAOSTAT| ThốngkêVN | ThờitiếtVN|
Thống kê
Số lần xem
Đang xem 208
Toàn hệ thống 2439
Trong vòng 1 giờ qua
Trang liên kết

 

Tỉnh thức
giữa đêm thiêng Yên Tử
Để thấm hiểu đức Nhân Tông
Ta thành tâm đi bộ
Lên tận đỉnh chùa Đồng
Tâm sáng Ức Trai
trong tựa ngọc


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

THUNG DUNG
Nguyễn Bỉnh Khiêm, ...


DẠY VÀ HỌC
Để chấn hưng giáo dục Việt Nam cấp thiết phải có đội ngũ những người thầy giáo ưu tú có tâm đức thiết tha với nghề, có trình độ chuyên môn cao và có kỹ năng giảng dạy tốt. Đây là trang thông tin chuyên đề dạy và học để trao đổi và bàn luận


Khoa Nông Học  
Những nhà khoa học xanh,
http://foodcrops.vn


Norman Borlaug
Lời Thầy dặn

Việc chính đời người chỉ ít thôi
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện
Di sản muôn năm mãi sáng ngời.


Thông tin Cây Lương thực
 Lúa, Ngô, Sắn, Khoai lang
Nông trại và Hệ thống Canh tác
http://foodcrops.vn
FOOD CROPS
CÂY LƯƠNG THỰC
  



Tình yêu cuộc sống
Thông tin chuyên đề chọn lọc

Science Daily

KHÁT KHAO XANH
HOÀNG KIM
CNM365

Luôn làm mới kiến thức của bạn !



Bút tích NB gửi HK và
Những tư liệu quý về 
GS.TS. Norman Borlaug

Lối vào Phong Nha

 


HOÀNG KIM
NGỌC PHƯƠNG NAM
CHÀO NGÀY MỚI

DẠY VÀ HỌC
CÂY LƯƠNG THỰC
FOOD CROPS



THƯ VIỆN NGHỀ LÚA
Thư viện Khoa học Xã hội





Cassava in Vietnam



A New Future for Cassava in Asia

On-line: Cassava in Asia
(Tải tài liệu PDF tại đây)


 

KimFaceBook
KimYouTube

KimLinkedIn

Songkhongtubien

KIMYOUTUBE. Video nhạc tuyển Sóng không từ biển (xem tiếp).



GỬI THƯ ĐIẾN TỬ VÀ
LIÊN KẾT TRỰC TUYẾN

hoangkimvietnam@gmail.com 
hoangkim@hcmuaf.edu.vn  
TS. Hoàng Kim

http://foodcrops.vn
http://vi.gravatar.com/hoangkimvn
http://en.gravatar.com/hoangkimvn

Thành viên

Email:
Password

Nội dung

.:: Việt Nam học ::.

Dạy và học 15 tháng 9


Darwin

CHÀO NGÀY MỚI 15 THÁNG 9
Hoàng Kim
CNM365 Tình yêu cuộc sốngTrà sớm nhớ bạn hiền; Mùa Trung Thu tình thân; Thanh trà Thủy Biều Huế; Trăng rằm vui chơi giăng; Thăm nhà cũ của Darwin; Làng Minh Lệ quê tôi; Bến Lội Đền Bốn Miều; Đá Đứng chốn sông thiêng; Ta về với Linh Giang; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Ngày 15 tháng 9 hàng năm được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chọn làm Ngày Quốc tế Dân chủ (International Day of Democracy) tại Quyết định vào ký ngày 15 tháng 9 năm 2007, với mục đích thúc đẩy và duy trì các nguyên tắc dân chủ và mời gọi tất cả các quốc gia và các tổ chức thành viên kỷ niệm ngày này một cách thích hợp để góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng. Ngày 15 tháng 9 năm 1835, Charles Darwin (hình) trong chuyến thứ hai trên tàu HMS Beagle, tới Quần đảo Galápagos, ở đấy ông phát triển học thuyết tiến hóa. Ngày 15 tháng 9 năm 1945 Thông tấn xã Việt Nam được thành lập dưới tên Việt Nam Thông tấn xã. Bài chọn lọc ngày 15 tháng 9 Trà sớm nhớ bạn hiền; Mùa Trung Thu tình thân; Thanh trà Thủy Biều Huế; Trăng rằm vui chơi giăng; Thăm nhà cũ của Darwin; Làng Minh Lệ quê tôi; Bến Lội Đền Bốn Miều; Đá Đứng chốn sông thiêng; Ta về với Linh Giang; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Việt Nam vị thế mới; Việt Nam con đường xanh; Giấc mơ Lúa Siêu Xanh; Gạo Việt Ngọc phương Nam; Linh Giang sông quê hương; Hoa Đất của quê hương; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-9/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nang-moi-1-e1589670316958.jpg

TRÀ SỚM NHỚ BẠN HIỀN
Hoàng Kim

Ban mai tỉnh thức chim kêu cửa
Hoa rắc bên song đẫm nước non
Ô hay gió mát hương trời biển
An giấc đêm ngon chí vẫn nồng *

(*) Lưu chùm ảnh và thơ “Trà sớm nhớ bạn hiền”
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tra-som-nho-ban-hien/

TRÀ SỚM VUI NGÀY MỚI
Hoàng Kim

Ban mai chợt tỉnh thức
Nghe đầy tiếng chim kêu
Đêm qua mây mưa thế
Hoa mai rụng ít nhiều.

Trà sớm thương người hiền,
trong không gian tỉnh lặng,
ăn sáng và chuyện vui,
lắng nghe đời thật chậm.

Ai học làm và dạy.
Ai vô sự là tiên
Ai an nhàn thanh thản
Ai thân với bạn hiền.

Văn chương là cõi mộng.
Giấc mơ lành trăm năm.
Phúc hậu là lẽ sống.
Thơ ra ngoài ngàn năm,

Chuyện Tình yêu cuộc sống,
Ông Nguyễn và bác Văn.
Cụ Trình và Trần lão,
Gần gũi mà xa xăm.

Tính sáng hơn châu báu.
Trở về với chính mình.
Trà thơm chào ngày mới.
Vui khỏe và bình yên…

NẮNG MỚI
Hoàng Kim


Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Đêm thương sương rụng nhắc ngoài hiên
Núi trùm mây khói trời chất ngất
Ngày tháng thung dung nhớ bạn hiền

TRÀ SỚM THƯƠNG NGƯỜI HIỀN
Hoàng Kim


Sao tình yêu may mắn
Ban mai sáng chân trời
Trà sớm thương người ngọc
Bình sinh mình biết mình

VÔ ĐỀ
Gia Cát Lượng


Mơ màng ai tỉnh trước,
Bình sinh ta biết ta.
Thềm tranh giấc xuân đẫy,
Ngoài song bóng xế tà.

Bản dịch lưu hành trong Tam Quốc diễn nghĩa, dịch bởi Phan Kế Bính

無題
大夢誰先覺,
平生我自知。
草堂春睡足,
窗外日遲遲。

Vô đề

Đại mộng thuỳ tiên giác,
Bình sinh ngã tự tri.
Thảo đường xuân thụy túc,
Song ngoại nhật trì trì.

Dịch nghĩa

Trong giấc mộng lớn, ai là người tỉnh trước?
Trong cuộc đời này ta tự biết ta.
Đang yên giấc ngủ xuân trong ngôi nhà tranh,
Bên ngoài cửa sổ mặt trời (ngày tháng) cứ chậm rãi trôi qua.

ThaiDuonghe

GÕ BAN MAI VÀO PHÍM
Ngôi sao may mắn chân trời
Hoàng Kim

ta gõ ban mai vào bàn phím
gõ vào khuya ngơ ngẫn kiếm tìm
biết em ngủ đợi chờ em tỉnh thức
như ánh sao trời ở chốn xa xôi.

em em em giá mà em biết được
những yêu thương hóa đá chốn xa mờ
sợi tóc bạc vì em mà xanh lại
lời ru và nỗi nhớ ngấm vào thơ.

em thăm thẳm một vườn thiêng cổ tích
chốn ấy cõi riêng khép mở chân trời
ta như chim đại bàng trở về tổ ấm
lại khát Bồng Lai ước vọng mù khơi.

ta gõ ban mai vào bàn phím
dậy em ơi ngày mới đến rồi. (**)

TRÀ SỚM THƯƠNG NGƯỜI HIỀN
Hoàng Kim

Ngắm ảnh nhớ thương ngày tháng cũ
Bạn hiền trà sớm chẳng quên nhau
Ban mai tỉnh thức ngày vui mới
Nắng hửng thanh tâm bát ngát trời

Hieu Nguyenminh, Trần Văn Minh, Trần Thị Lệ, Hoàng Kim, trà sớm ở cố đô Huế, trò chuyện về cụ Miên Thẩm

BÀI THƠ VIÊN ĐÁ THỜI GIAN
Hoàng Kim với anh Phan Chí


“Về quê lần trước ghé thăm đây.
Đất hiếu cầu thương níu bạn bầy.
Thơ thiền Nhất Hạnh tìm nơi cũ.
Mặt trời từng hạt chính nơi này”
(HK).

Cà phê ở Huế thơm ngon lắm.
Mười bốn ngàn thôi uống suốt ngày.
Ngắm em tóc gió bay bay nắng.
Nghe bạn tâm tình hơn rượu say”
(PC)

@ với anh PC: Em Ra Huế thăm vị chân chúa Nguyễn Hoàng ở lăng Trường Cơ, tọa lạc tại xã La Khê, huyện Hương Trà, nay là làng La Khê, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; thăm Thiên Thụ Sơn vùng cây trên 2000 ha mà triều Nguyễn dày công mang kỳ hoa dị thảo cả nước có nguồn cây trái chính yếu đặc sản đất phương Nam về trồng ở chốn kinh kỳ để lưu dấu những hoài niệm bôn tẩu trọn đời quy giang sơn về một mối. Lạ lùng thay, khi được may mắn uống trà ban mai tĩnh lặng ở Từ Hiếu với bạn hiền lại được lắng nghe cổ vật và các trang sách uyên áo của các vị thiền sư trò chuyện. Tâm chợt ngộ ra rằng vị chân chúa nhà Nguyễn chưa hẳn đã ở Trường Cơ mà có thể ẩn khuất ở chính nơi đây, gần Nam Giao và phía sau của chính điện Từ Hiếu, cội nguồn của hiếu sinh.

KHÁT KHAO XANH
Hoàng Kim

Khát khao xanh
Trời xanh
Biển xanh
Cây xanh
Con đường xanh
Giấc mơ hạnh phúc.

Anh tan vào em
thành ngôi sao may mắn
Em dựa vào anh
thành niềm tin hi vọng
Mình hòa vào nhau
ươm mầm xanh sự sống

Những thiên thần bé nhỏ
sinh thành từ khát khao xanh.

NGÔI SAO MAI CHÂN TRỜI
Hoàng Kim

Em đọc lại Nhà Giả Kim em nhé
Bài ca thời gian câu chuyện cuộc đời
Một giấc mơ Người đi tìm kho báu
Theo ước mơ mình tới chốn xa xôi …

Bậc tiên tri biết nhìn sâu khát vọng
Khuyến khích em theo mơ ước tuổi hoa
Đi tới cuối con đường hạnh phúc
Hãy là chính mình, ta chính là ta.

Em thấu hiểu có ngôi sao may mắn
Luôn bên em lấp lánh phía chân trời
Nơi bảng lãng
thơ tình Hồ núi Cốc
Giấc mơ đưa ta về cổ tích xa xôi  …

Lên đường đi em
Bình minh đã rạng
Vui bước tới thảnh thơi
Vui đi dưới mặt trời!

Ta hãy chăm như con ong làm mật
Cuộc đời này là hương hoa.
Ngày mới yêu thương vẫy gọi,
Ngọc cho đời vui khỏe cho ta.

Hoàng Kim

XUÂN SỚM NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

Trời trong vắt và xuân gần gũi quá
Đóa hoa xuân lặng lẽ nở bên thềm
Giọt sương ngọc lung linh trên lộc nõn
Đất giao hòa xuân sớm hóa mênh mông.

XUÂN SỚM
Hoàng Kim

Sớm mai trời lạnh giá
Ngắm cảnh nhớ Đào Công
Chuyển mùa trời chưa ấm
Tuyết xuân thương người hiền

Đêm trắng và Bình Minh
Thung dung chào ngày mới
Phúc hậu sống an nhiên
Đông qua rồi xuân tới.

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay

NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

hứng mật đời
thành thơ
việc nghìn năm hữu lý
trạng Trình

đến Trúc Lâm
đạt năm việc lớn Hoàng Thành
đất trời xanh
Yên Tử …

(*) Hoàng Kim họa đối
THUYỀN ĐỘC MỘC
Trịnh Tuyên

Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…‘ (*)

Cảm ơn Nguyen Thanh Binh thầm lặng mà hiệu quả đóng góp cho quê hương. Trà sớm với bạn hiền cùng Nguyen Thanh Binh (Roots of Peace) cũng lại là thật đáng nhớ. Ba giờ khuya, Bình ra bến tàu đón tôi, trà sớm là với nông dân. Quảng Trị dân ra đồng sớm (chứ không phải 8:00 sáng theo lịch làm việc hành chính). Nguyen Thanh Binh thân với tôi cũng như nhóm bạn nhà nông ở Phú Yên, Sóc Trăng, Đăk Lăk, Đồng Nai, Tây Ninh, … Những buổi học trên đồng giữa khoa học, khuyến nông và nông dân luôn thiết thực với cuộc sống mỗi ngày của người dân và thực sự là chén cơm của họ.

mientham

MIÊN THẨM THẦY THƠ VIỆT
Hoàng Kim.

“Văn như Siêu Quát vô tiền Hán; Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” Vua Tự Đức ông vua nổi tiếng hay chữ thời Nguyễn trong lịch sử Việt Nam đã viết như vậy. Vua Tự Đức  trước mộ Tùng Thiện Vương cũng cảm khái đề thơ: Nhất Đại Thi Ông thệ bất hoàn! (Sao Nhất Đại Thi Ông nỡ không trở lại !). Sổ xích tân phần tỳ mẫu mộ Kỷ thiên cựu vịnh bá nhân hoàn (Vài thước đất vun gần mộ mẹ Mấy bài thơ rãi khắp bầu trời.)   Tôi theo chân Lê Ngọc Trác tìm về Tùng Thiện Vương, lần theo lời đánh giá này để tìm về cội nguồn hiểu rõ thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm.

Miên Thẩm cuộc đời và thơ văn

Tùng Thiện Vương  tên thật là Nguyễn Phúc Miên Thẩm, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1819 nhằm ngày 24 tháng 10 năm Kỷ Mão tại Cung Thanh Hoà, trong Đại nội Kinh thành Huế, mất ngày 30 tháng 4 năm 1870, tên tự là Trọng Uyên,  tên tự khác là Thận Minh, hiệu Thương Sơn, biệt hiệu Bạch Hào Tử.  Ông là một nhà thơ lớn của triều đại nhà Nguyễn ở trong hội Mạc Vân thi xã nổi tiếng. Miên Thẩm cùng với hai em là Tuy Lý Vương, Tương An Quận Vương được người đời xưng tụng là “Tam Đường”. Ông là  cháu nội của vua Gia Long, con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, em của vua Thiệu Trị, chú của vua Tự Đức.  Mẹ ông là Thục tần Nguyễn Thị Bửu người Bình Chương Gia Định con gái của Tư không Nguyễn Khắc Thiệu rất giỏi chữ nghĩa. Ông thuở nhỏ tên  Hiện đến năm 1832 khi đã có Đế hệ thi ông được cải tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm. Theo Đại Nam liệt truyện, ông thuở nhỏ được cùng ng với các em học  thầy Thân Văn Quyền dạy chu đáo, Sau khi lớn lên ông trở thành con rể của quan đại thần Trương Đăng Quế là danh thần trải bốn triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức trong lịch sử Việt Nam.

Năm 1839 ông được phong làm Tùng Quốc công, mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu, Huế. Năm 1849, ông lập thêm Tiêu Viên  sau phủ, đón mẹ  là Thục tần Nguyễn Thị Bửu và ba em gái (Nguyệt Đình , Mai Am và Huệ Phố ra phụng dưỡng chăm nuôi. Khi các em lần lượt có chồng, rồi mẹ mất, ông cải tạo phủ chính làm nhà thờ, còn mình lui về ở Tiêu Viên và dựng lều tranh bên cạnh mộ mẹ cư tang ba năm. Nhà Tùng Thiện Vương dấu tích nay đối diện với Vĩ Dạ xưa bên sông An Cựu.

Năm 1854 mãn tang, ông được gia phong Tùng Thiện công. Năm 1858, ông mua 12 mẫu ruộng ở xã Dương Xuân, làm nhà ở gọi là Phương Thốn thảo đường. Năm 1865, ông giữ chức Tả Tôn Nhân phủ, trong thời gian này xảy ra sự biến giặc Chày vôi  Trước đó, ông đã gả con gái là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng, một thanh niên ở làng An Truyền (tức làng Chuồn ở xã Phú An huyện Phú Vang ngày nay). Nguyên Đoàn Hữu Trưng cha mất sớm, mẹ bị mù, đông em, nên từ thuở nhỏ ông đã phải làm lụng vất vả để nuôi em, nuôi mẹ. Dù vậy, vốn thông minh và ham học, ngay từ buổi ấy ông đã là người nổi tiếng hay chữ khắp vùng. Vào một dịp Tết, nhờ một câu đối mà Đoàn Trưng và Đoàn Trực được Tuy Lý Vương Miên Trinh cho vào học trong vương phủ . Tài học của Đoàn Trưng có dịp vang lên chốn kinh thành. Năm 1864  Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (anh ruột Tuy Lý Vương), cũng vì quý tài, gả con gái đầu là Thể Cúc cho Đoàn Trưng, dù lúc ấy ông chưa đỗ đạt gì. Năm 1866, Hữu Trưng ngầm làm cuộc nổi dậy nhằm lật đổ vua Tự Đức bằng Đinh Đạo[6] (con Hồng Bảo). Việc thất bại, Hữu Trưng và nhiều người bị hành hình. Mặc dù trước đó, Hữu Trưng đã lấy cớ vợ cư xử trái lễ với mẹ chồng mà trả về để tránh liên lụy cho nhà vợ, Miên Thẩm cũng trói cả con gái và cháu ngoại, quỳ dâng sớ xin chịu tội. Tự Đức không kết tội chỉ nói ông: “Chọn rể không cẩn thận để mất thanh danh, nay trừ bổng trong tám năm”. Suốt những năm bị trừ bổng ấy, ông lên ngôi chùa cổ Từ Lâm hoang tàn ở xã Dương Xuân làm nơi cư ngụ, vợ con phải canh tác trồng cây quả đem ra chợ bán để có cái ăn hàng ngày. Ông mất ngày 30 tháng 3  năm Canh Ngọ (tức 30 tháng 4 năm 1870), lúc 51 tuổi. Thụy là Văn Nhã. Năm 1878 ông được  vua  Tự Đức gia tặng là Tùng Thiện Quận vương. Năm 1936 vua Bảo Bảo Đại  mới truy phong ông là Tùng Thiện Vương mà ngày nay vẫn gọi.

Miên Thẩm là Đỗ Phủ thơ Việt

Ông sống thận trọng, minh triết, trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, các ông hoàng nhà Nguyễn không được đi thi, ít được tham gia chính sự, khi đất nước đang hết sức rối ren: nội bộ triều đình lủng củng, rạn nứt, loạn lạc khắp nơi, thiên tai, mất mùa nhiều năm cùng nạn ngoại bang xâm lấn. Hai trăm năm sau thật khó xác định được tài năng thật sự và đóng góp của ông trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự… Chỉ biết rằng sinh thời, Miên Thẩm là một ông hoàng có nhiều uy tín bởi đạo đức cao, tri thức rộng. Ông đến với mọi người đều bằng tấm lòng chân thực, khiêm tốn, phóng khoáng; không hề phân biệt địa vị, tuổi tác hay sang hèn. Nhờ vậy Mạc Vân thi xã còn gọi là Tùng Vân thi xã mà ông là “Tao đàn nguyên súy” tập họp được nhiều danh sĩ đương thời, trong đó có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Giai và nhiều hoàng thân quý tộc như Thọ Xuân Vương Miên Định, Hàm Thuận Quận Công Miên Thủ, Tuy Lý Vương Miên Trinh, Tương An Quận Vương Miên Bửu, Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện, …

Miên Thẩm là một nhà thơ chữ Hán bậc thầy. Ông được một số nhà thơ Trung Quốc đánh giá cao, trong đó có Tiến sĩ Lao Sùng Quang. Chung Ứng Nguyên một danh sĩ người Bắc Kinh Trung Quốc đã làm thơ ca tụng Miên Thẩm Tùng Thiện Vương: Nhược sử nguyên tinh giáng Trung Quốc / Hàn trào, Tô hải, si đồng lưu / Hu ta công hồ thùy dữ trù / Hu ta công hồ vô dữ trù (Như Thương Sơn sinh vào Trung Quốc/ Thi tài ngang với ông Hàn Dũ, ông Tô Đông Pha/ Than ôi ! đời nay ai sánh vai? /Than ôi đời nay không ai có thể sánh vai được!)

Miên Thẩm cũng được các danh sĩ đương thời, kể cả vua Tự Đức nhờ duyệt thơ. Cao Bá Quát (1809 – 1855) một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam, quốc sư của cuộc nổi dậy Mỹ Lương tại bài đề tựa Thương Sơn thi tập của Miên Thẩm, đã viết:…”Tôi theo Quốc công (Tùng Thiện Vương) chơi đã lâu. Thơ của Quốc công đâu phải đợi đến ngày nay mới nói đến? Và cũng đâu phải đợi đến Quát này mới có thể nói được? Sáng ngày mai, đứng ở ngoài cầu Đốc Sơ trông về phía Nam… đó chẳng phải là núi Thương Sơn ư? Mua rượu uống rồi, cởi áo ở nơi bắc trường đình, bồi hồi ngâm vịnh các bài thơ “Hà Thượng” của Quốc công, lòng khách càng cảm thấy xa xăm man mác … 

Tùng Thiện Vương để lại cho đời một gia tài văn học thật đồ sộ (14 tập). Trong đó Thương Sơn thi tập gồm 54 quyển chia ra 8 tập với hơn 2.200 bài thơ. Các tác phẩm chính khác như  Thương Sơn từ tập- Thương Sơn thi thoại- Thương Sơn ngoại tập- Thương Sơn văn di- Nạp bị văn tập- Học giá chí- Nam cầm phổ- Độc ngã thư sao- Lão sinh thường đàm- Tịnh y kí- Tình kị tập- Thi tấu hợp biên- Lịch đại thi tuyển- Thức cốc biên – Thi kinh diễn nghĩa ca- Lịch đại đế vương thống hệ đồ- Lịch đại thi nhân tiểu sử Về thơ quốc âm của ông, nay chỉ còn bài đề sách “Nữ phạm diễn nghĩa từ” của Tuy Lý Vương và khúc liên ngâm Hoà lạc ca (Tùng Thiện,Tuy Lý, Tương An). 

Miên Thẩm bậc thầy văn chương Việt

Ví Miên Thẩm là Đỗ Phủ thơ Việt liệu có nói quá hay không?
Đọc Đỗ Phủ nhớ Đặng Dung, Đỗ Phủ những bài thơ bi tráng,  Đỗ Phủ là Thi thánh Thi sử Trung Quốc do đức độ cao thượng, tài thơ văn tuyệt vời. Đỗ Phủ cùng Lý Bạch là hai nhà thơ vĩ đại nhất thời nhà Đường. Thơ Đỗ Phủ nổi tiếng vì phong cách đơn giản và thanh lịch đặc sắc bậc nhất trong thơ cổ điển Trung Quốc. Tầm vóc Đỗ Phủ sánh với Victor Hugo và Shakespeare. Thơ Đỗ Phủ ảnh hưởng sâu sắc tới văn hóa cổ điển Trung Quốc và văn học hiện đại Nhật Bản. Cụ Nguyễn Du đã từng thán phục Đỗ Phủ “Thiên cổ văn chương thiên cổ sư Bình sinh bội phục vị thường ly” (Văn chương lưu muôn đời, bậc thầy muôn đời Bình sinh bái phục không lúc nào ngớt. Cụ Hồ Chí Minh trong Di chúc đã có trích thơ Đỗ Phủ. Cuộc đời Đỗ Phủ là tấm gương phản chiếu đất nước Trung Hoa thời loạn khi đời sống nhân dân tột cùng điêu đứng vì thường xuyên biến động. Đỗ Phủ bộ sưu tập thơ được bảo tồn khoảng 1500 bài thơ đều là tuyệt phẩm. Thi Viện hiện có Đỗ Phủ trực tuyến 1450 bài. 

Tùng Thiện Vương Miên Thẩm cuộc đời và thơ văn thật đáng khâm phục và kinh ngạc. Miên Thẩm lưu lại cho đời 14 bộ sách, riêng bộ ‘Thương Sơn thi tập’ có 2.200 bài thơ, tiếc là thơ ông chưa được đầu tư dịch thuật Hán Nôm bảo tồn và phát triển thỏa đáng. Thi Viện chỉ mới lưu một sồ bài. Soi gương kim cổ thì danh sĩ Trung Hoa Chung Ứng Nguyên đã ví ông với đại văn hào Hàn Dũ và đại văn hào Tô Đông Pha là bát đại gia Đường Tống: “Như Thương Sơn sinh vào Trung Quốc/ Thi tài ngang với ông Hàn Dũ, ông Tô Đông Pha/ Than ôi ! đời nay ai sánh vai? /Than ôi đời nay không ai có thể sánh vai được!“. Chúng ta khi bình tâm xem xét kỹ lại cuộc đời thơ văn và tầm minh triết thì Miên Thẩm là Đỗ Phủ thơ Việt.  Ba ý chính để đánh giá: Thứ nhất là chất lượng thơ. Thứ hai là khối lượng tác phẩm và những bài thơ “giản dị xúc động ám ảnh” đọng lại trong lòng người đọc; Thứ ba là tư tưởng cuộc đời nhân cách tác giả là minh triết trí tuệ gương cho người đương thời và hậu thế. Miên Thẩm cả ba ý này đều rất gần gũi với Đỗ Phủ qua những tư liệu lắng đọng ở “Miên Thẩm cuộc đời và thơ văn” nêu trên. Xin được trích dẫn giới thiệu một số bài thơ tuyển chọn dưới đây.

Thi Viện có lưu một sồ bài thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm dưới đây:

  1. Bạch Đằng giang
  2. Bần gia
  3. Bất mị tuyệt cú
  4. Bi thu
  5. Biệt lão hữu
  6. Chiên đàn thụ
  7. Cổ ý
  8. Cừ Khê thảo đường kỳ 1
  9. Cừ Khê thảo đường kỳ 2
  10. Cừ Khê thảo đường kỳ 3
  11. Dạ bạc Nguyệt Biều
  12. Dạ bộ khẩu hào
  13. Dạ độ Kiến Giang ngẫu thành
  14. Dạ văn trạo ca
  15. Dịch kỳ
  16. Đạo phùng cố nhân
  17. Đăng Thuý Vân sơn hữu cảm
  18. Điền lư
  19. Điền lư tiểu khế đề bích
  20. Điếu Trương Độn Tẩu
  21. Độc Nguyễn Đình Chiểu nghĩa dân tử trận quốc ngữ văn
  22. Đông viên hoa
  23. Gia Hội độ
  24. Giang thôn kỳ 1
  25. Giang thôn kỳ 2
  26. Hạ thọ
  27. Hải thượng
  28. Hán cung từ
  29. Hoan Châu dạ vũ
  30. Hương Cần
  31. Khách đình
  32. Kim hộ thán
  33. Kim Luông dạ bạc
  34. Kim tỉnh oán
  35. Kỷ mộng
  36. Lão bệnh
  37. Lão khứ
  38. Liễu
  39. Long thành trúc chi từ kỳ 1
  40. Long thành trúc chi từ kỳ 2
  41. Long Thọ cương
  42. Lục thuỷ
  43. Lựu
  44. Mỵ Châu từ
  45. Nam Định hải dật
  46. Nam khê
  47. Ngô Vương oán
  48. Nhàn cư
  49. Nhất Trụ tự
  50. Nhĩ hà
  51. Dạy và học 14 tháng 9


    DẠY VÀ HỌC 14 THÁNG 9
    Hoàng Kim
    CNM365 Tình yêu cuộc sốngViệt Nam vị thế mới; Việt Nam con đường xanh; Giấc mơ Lúa Siêu Xanh; Gạo Việt Ngọc phương Nam; Linh Giang sông quê hương; Hoa Đất của quê hương; Ngày 14 tháng 9 năm 1946, Marius MoutetHồ Chí Minh ký kết Tạm ước Việt – Pháp, một thành quả của Hội nghị Fontainebleau tại Seine-et-Marne, Pháp. Ngày 14 tháng 9 năm 1901,Theodore Roosevelt trở thành Tổng thống Hoa Kỳ, lúc đó là người trẻ nhất nhậm chức ở tuổi 42, tám ngày sau William McKinley bị ám sát. Ngày 14 tháng 9 năm 2000, Microsoft phát hành Windows Me, hệ điều hành cuối cùng trong dòng Windows 9x. Bài chọn lọc ngày 14 tháng 9: Việt Nam vị thế mới; Việt Nam con đường xanh; Giấc mơ Lúa Siêu Xanh; Gạo Việt Ngọc phương Nam; Linh Giang sông quê hương; Hoa Đất của quê hương; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/ http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-14-thang-9/

    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: VGP

    VIỆT NAM VỊ THẾ MỚI
    Hoàng Kim


    Việt Nam vị thế mới
    Việt Nam con đường xanh
    Giấc mơ Lúa Siêu Xanh
    Gạo Việt Ngọc phương Nam


    Báo Nhân Dân đăng bài viết của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng
    Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt NamDư luận quốc tế Bài viết của Tổng Bí thư là tác phẩm có ý nghĩa quan trọng“.Chủ tịch Quốc Hội Việt Nam công du Châu Âu “Nâng tầm hợp tác Việt Nam – EU ngày càng thực chất và hiệu quả”. Thứ trưởng Ngoại giao Tô Anh Dũng:Chuyến công tác của Chủ tịch Quốc hội thành công vượt dự kiến”. Chuyện bên lề chính sử “Tin hay không nên tin” “Việt Nam là dân tộc nhỏ yếu, nghèo nàn và lạc hậu?”; xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/viet-nam-vi-the-moi

    Những trích dẫn nổi bật
    Chuyển đổi số Quốc gia
    Chuyển đổi số nông nghiệp
    Tin nổi bật quan tâm

    VIỆT NAM CON ĐƯỜNG XANH
    Hoàng Kim

    Việt Nam con đường xanh những trích dẫn nổi bật của kỳ này gồm: Tin nổi bật quan tâm; Đọc lại và suy ngẫm: “Toàn văn Bản Tuyên ngôn độc lập“; “Bài viết của Tổng Bí thư về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” “Tầm nhìn mới, bản lĩnh mới, sức sáng tạo mới“; Người giương ngọn cờ đúng thời điểm lịch sử; Muốn CNXH, nền chính trị phải thật sự dân chủ; Không thể có CNXH từ lý luận sáo mòn; “Để Việt Nam mơ giấc mơ ‘hóa rồng, hóa hổ’; Khi nào hoàn thành giấc mơ công nghiệp hóa

    Bác Hồ nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành“. Việt Nam con đường xanh cốt lõi là an dân với năm yếu tố: An sinh xã hội; An tâm; An lạc; An toàn; An ninh.

    Định hướng chiến lược quốc gia, phương hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội 2021-2030 (* Đảng Cộng Sản Việt Nam 2020, Dự thảo các văn kiện trình đại hội Đảng XIII của Đảng) xác định 10 giải pháp cơ bản:

    1) Tập trung hoàn thiện nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt hơn quan hệ giữa Nhà nước và thị trường.

    2) Phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm tạo bứt phá nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế;

    3) Phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế;

    4) Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm thực chất, hiệu quả; phát triển nền kinh tế số; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô;

    5) Phát triển kết cấu hạ tầng, kinh tế vùng, kinh tế biển, lấy các đô thi làm động lực phát triển vùng và đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới;

    6) Phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân;

    7) Quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên; tăng cường bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai;

    8) Củng cố, tăng cường quốc phóng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia;

    9) Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, hội nhập và vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế;

    10) Tiếp tục xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tạo đột phá trong cải cách hành chính.

    Việt Nam con đường xanh lĩnh vực nông lâm thủy hải sản trọng tâm là 13 sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia đã được xác định bởi Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại Thông tư số 37 /2018/TT /BNNPTNT ngày 25/12/2018 gồm Gạo, Cà phê, Cao su, Điều, Hồ tiêu, Chè, Rau Quả, Sắn và sản phẩm từ sắn, Thịt lợn, Thịt và trứng gia cầm, Cá tra, Tôm, Gỗ và sản phẩm từ gỗ.

    Phương hướng nhiệm vụ và giải pháp chính của giai đoạn 2021- 2030 để đảm bảo khối sản phẩm chủ lực này phát huy hiệu quả giá trị nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân lao động Việt Nam là cần tổ chức điều hành thật tốt 5 nhóm hệ thống giải pháp chính đã được xác định:

    1) Nông sản Việt 13 ngành hàng chủ lực kết nối mạnh mẽ với thị trường thế giới, xác định lợi thế so sánh và hệ thống giải pháp bảo tồn phát triển bền vững, hiệu quả khoa học công nghệ, kinh tế an sinh xã hội môi trường và vị thế quan trọng của từng ngành hàng. Nâng cao hiệu quả, hiệu lực hợp tác đầu tư nước ngoài có trọng tâm, trọng điểm, có chọn lọc, ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, quản trị hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo, kết nối Nông sản Việt đạt lợi thế cạnh tranh cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu, có tác động lan tỏa, kết nối chặt chẽ hữu cơ với khu vực kinh tế trong nước. Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp, hiệu quả, đẩy mạnh hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, kết nối với hệ thống tiêu thụ toàn cầu. Phát triển mạnh doanh nghiệp nông nghiệp, hổ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, hợp tác xã nông nghiệp và các tổ hợp tác. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông nghiệp.

    2) Phát triển mạnh nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, sạch, nông nghiệp hữu cơ, đạt tiêu chuẩn phổ biến về an toàn thực phẩm. Đổi mới chính sách quản lý và sử dụng đất trồng lúa, hàng năm sản xuất khoảng 35 triệu tấn lúa làm nòng cốt bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với lợi thế và nhu cầu thị trường, tăng khả năng chống chịu, thích ứng của nông dân với biến đổi khí hậu từng vùng, miền, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung, ổn định. Tổ chức kết nối nông nghiệp với công nghiệp chế biến, thị trường xuất khẩu, chuỗi giá trị toàn cầu.

    3) Phát triển chăn nuôi công nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khuyến khích phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại hiệu quả cao, thân thiện với môi trường. Phát triển nuôi trồng thủy sản cá trên biển và mặt nước nội địa theo hướng công nghiệp, quảng canh cải tiến , sinh thái, nâng cao hiệu quả khai thác xa bờ , phát triển đánh bắt hải dương. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản;

    4) Quản lý chặt chẽ, bảo vệ và phục hồi rừng tự nhiên gắn với bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng rừng trồng, nhất là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu, rừng phòng hộ ven biển. Chú trọng phát triển trồng rừng gỗ lớn, nâng cao hiệu quả rừng trồng, lâm đặc sản, đáp ứng cơ bản nhu cầu lâm sản trong nước làm nguyên liệu chế biến xuất khẩu. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng vào các chuỗi giá trị lâm nghiệp.

    5) Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới và quản lý sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên; tăng cường bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai. Đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia thượng nguồn và các tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước ở lưu vực các dòng sông xuyên biên giới, nhất là sông Mê Công và sông Hồng. Nâng cao tính chống chịu và thích ứng biến đổi khí hậu của hệ thống kết cấu hạ tầng và của nền kinh tế Việt Nam, thực hiện các giải pháp thông minh để thích ứng trong nông nghiệp, thủy sản và phát triển rừng. Giảm thiểu những rũi ro do biến đổi khí hậu gây ra, đặc biệt là xâm nhập mặn, sạt lở tại Đồng Bằng Sông Cửu Long, an toàn lụt và môi sinh tại Hà Nội và vùng Đồng Bằng Sông Hồng khô hạn tại Tây Nguyên, Nam Trung Bộ,Bắc Trung Bộ Bảo vệ an ninh nguồn nước, tăng cường quản lý và khai thác, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nguồn nước theo lưu vực sông, ngăn chặn suy giảm tài nguyên nước, tích nước điều tiết nguồn nước hợp lý phục vụ phát triển kinh tế xã hội. Quản lý chặt chẽ và nâng cao hiệu lực quản lý, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài nguyên, nhất là đất, nước khoáng sản, theo nguyên tắc thị trường. Phát triển thị trường, đẩy mạnh thương mại hóa quyền sử dụng đất, tăng cường đăng ký quyền sử dụng đất và áp dụng định giá đất theo thị trường, bảo đảm công khai, minh bạch. Phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, mạng lướí các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia kết nối đồng bộ với các khu vực nông phẩm hàng hóa chính và khu đô thị, khu công nghiệp, cảng biển; Kết nối xây dựng nông thôn mới với kinh tế vùng, kinh tế biển, đào tạo nguồn lực nông nghiệp, cải tiến nâng cấp hệ thống hóa dữ liệu thông tin nông nghiệp nông dân nông thôn đáp ứng phù hợp với thời đại mới. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo hướng gắn với đô thị hóa, thực chất và đi vào chiều sâu hiệu quả bền vững, lấy cư dân nông thôn làm chủ thể, tạo sự chuyển biến tích cực rõ rệt về nếp sống mới ở nông thôn; xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu, nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới cấp thôn bản. Thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông thôn để tổ chức và nâng cao chuỗi gía trị “mỗi xã một sản phẩm” gắn với thương hiệu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm. Chú trọng xây dựng cảnh quan sinh thái môi trường làng xã Việt xanh sạch đẹp tiến bộ an lành

    Ba trụ cột cốt lõi của một quốc gia là cân đối hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và thực hiện tiến bộ công bằng xã hội.theo kết luận của Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Phát triển bền vững tại Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002.

    Bảo vệ an toàn môi trường sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân lao động Việt Nam là một trong ba trụ cột cốt lõi của chính sách quốc gia. Bảo vệ an toàn thức ăn, đất, nước, không khí và môi sinh là luật sống. Nguyên tắc cơ bản là: Ai gây ô nhiễm môi trường phải trả chi phí để xử lý khắc phục hậu quả, cải tạo và phục hồi. Thực thi chế tài và xử phạt nghiêm về vi phạm môi trường là quốc sách.

    Tăng cường giám sát, công khai đầy đủ, kịp thời thông tin và nâng cao chất lượng môi trường, sự an toàn về thức ăn, đất nước, không khí và môi sinh ở các đô thị và vùng dân cư. Xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Cải thiện rõ rệt tình trạng ô nhiễm môi trường, ở các cụm công nghiệp, làng nghề, lưu vực sông, khu vực nông thôn. Kiểm soát chặt chẽ các dự án khai thác tài nguyên, chủ động phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm gây ô nhiễm môi trường. Ngăn chặn suy thoái môi trường. Tối ưu hóa các mục đích sử dụng đất nông nghiệp. Đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia thượng nguồn và các tổ chức quốc tế trong việc bảo vệ và sử dụng có hiệu quả tài nguyên nước ở lưu vực các dòng sông xuyên biên giới, nhất là sông Mê Công và sông Hồng.

    Việt Nam con đường xanh, thông tin đúc kết này là chọn lọc trích dẫn phù hợp với tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Định hướng và tầm nhìn này nhấn mạnh

    1) Phải phát triển hài hòa ba trụ cột “Không đánh đổi môi trường với tăng trưởng kinh tế”; “Không thể vì nghèo mà hy sinh môi trường và sức khỏe người dân”

    2) Vai trò kiến tạo của Nhà nước là quyết định;

    3) Vai trò của người dân lao động và cộng đồng xã hội là không thể thiếu.

    Việt Nam ngày nay nhấn mạnh sự diệt trừ tham nhũng và đề cao vai trò kiến tạo của Nhà nước là quyết định. Việt Nam là nước văn hiến có truyền thống “bầu ơi thương lấy bí cùng” và kinh nghiệm làm chủ tập thể, cũng đã vận dụng thành công “chính sách cộng sản thời chiến” biết thắt lưng buộc bụng đầu tư trong điểm.

    NHỮNG TRÍCH DẪN NỔI BẬT

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
    Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng
    Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

    Theo Việt Nam Net ngày 16/05/2021, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có
    bài viết: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”.  CNM365 Tình yêu cuộc sống trích dẫn toàn văn bài viết quan trọng này

    (VNN) Tổng Bí thư viết bài này nhân dịp kỷ niệm 131 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh  (19/5/1890 – 19/5/2021) và bầu cử ĐBQH khoá XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026 vào ngày 23/5 tới đây. VietNamNet trân trọng giới thiệu toàn văn bài viết quan trọng này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

    Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội dung rất rộng lớn, phong phú và phức tạp, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu rất công phu, nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách sâu sắc, khoa học.

    Trong phạm vi bài này, tôi chỉ xin đề cập một số khía cạnh từ góc nhìn thực tiễn của Việt Nam. Và cũng chỉ tập trung vào trả lời mấy câu hỏi: Chủ nghĩa xã hội là gì? Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì?.

    Như chúng ta đã biết, chủ nghĩa xã hội thường được hiểu với ba tư cách: chủ nghĩa xã hội là một học thuyết; chủ nghĩa xã hội là một phong trào; chủ nghĩa xã hội là một chế độ. Mỗi tư cách ấy lại có nhiều biểu hiện khác nhau, tuỳ theo thế giới quan và trình độ phát triển ở mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Chủ nghĩa xã hội đề cập ở đây là chủ nghĩa xã hội khoa học dựa trên học thuyết Mác – Lênin trong thời đại ngày nay. Vậy thì chúng ta phải định hình chủ nghĩa xã hội thế nào, và định hướngđi lên chủ nghĩa xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam?

    Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá.

    Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác – Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác.

    Có người còn phụ hoạ với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác – Lênin và con đường xã hội chủ nghĩa! Thực tế có phải như vậy không? Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?

    Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học – công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước.

    Từ giữa thập kỷ 70 và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó.

    Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008 – 2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Các nhà nước, các chính phủ tư sản ở Phương Tây đã bơm những lượng tiền khổng lồ để cứu các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, các tổ hợp công nghiệp, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, nhưng không mấy thành công.

    Và hôm nay, chúng ta lại chứng kiến cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc.

    Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế – tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội, và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế. Sự thật cho thấy, bản thân thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản không thể giúp giải quyết được những khó khăn, và trong nhiều trường hợp còn gây ra những tổn hại nghiêm trọng cho các nước nghèo; làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa lao động và tư bản toàn cầu.

    Sự thật đó cũng làm phá sản những lý thuyết kinh tế hay mô hình phát triển vốn xưa nay được coi là thời thượng, được không ít các chính khách tư sản ca ngợi, được các chuyên gia của họ coi là tối ưu, hợp lý.
    Cùng với khủng hoảng kinh tế – tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,… đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại.

    Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa. Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó. Theo nhiều nhà khoa học phân tích, các cuộc khủng hoảng hiện nay không thể giải quyết được một cách triệt để trong khuôn khổ của chế độ tư bản chủ nghĩa.

    Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân – yếu tố bản chất nhất của dân chủ.

    Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản.

    Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất. Trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ” dù có thể thay đổi chính phủ nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản.

    Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm.

    Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hoà với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và huỷ hoại môi trường.

    Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội và cũng chính là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi.
    Như chúng ta đều biết, nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân với tinh thần “Không có gì quý hơn Độc lập Tự do”.

    Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc.

    Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam. Năm 1930, trong Cương lĩnh chính trị của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ trương: “Tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”.

    Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa lâm vào giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

    Tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

    Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào?Đó là điều mà chúng ta luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

    Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản…

    Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

    Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.

    Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới.

    Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị k

    Dạy và học 13 tháng 9


    DẠY VÀ HỌC 13 THÁNG 9
    Hoàng Kim
    CNM365 Tình yêu cuộc sốngQuảng Bình đất Mẹ ơn Người;Ban mai đứng trước biển; Thơ tình Hồ Núi Cốc; Yên Lãng Hồ Chí Minh; Nôi đất Việt yêu thương; Mỏ than Hồng giữ lửa; Chọn giống sắn kháng CMD; Khoai Sắn Lúa Siêu Xanh; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Ngày Hạnh Phúc của em; CIP Peru và khoai Việt; Giấc mơ lành yêu thương; Hoàng Trung Trực đời lính; Hoàng Đình Quang bạn tôi; Một gia đình yêu thương; .Ngày 13 tháng 9 năm 1913 là ngày sinh Trần Đại Nghĩa (1913–1997) là một Thiếu tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, giáo sư, kỹ sư quân sự, nhà bác học, người đặt nền móng xây dựng ngành khoa học kỹ thuật quân sự và công nghiệp quốc phòng Việt Nam .Ngày 13 tháng 9 năm  2006, Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản tập cuối cùng, chính thức hoàn thành sau 15 năm biên soạn và xuất bản. Ngày 13 tháng 9 năm 1229 , Oa Khoát Đài trở thành đại hãn thứ hai của Đế quốc Mông Cổ sau Thành Cát Tư Hãn. Dưới thời Oa Khoát Đài sự bành trướng của người Mông Cổ gần như toàn bộ châu Á, hầu hết lãnh thổ Nga (ngoại trừ Novgorod trở thành chư hầu), là việc ngay cả Napoléon và Hitler cũng không thể làm được. Ông đã đem lại sự ổn định chính trị và tái thiết lập con đường tơ lụa, hành trình thương mại chính giữa phương Đông và phương Tây thời đó. Bài chọn lọc ngày 13 tháng 9: Quảng Bình đất Mẹ ơn Người;Ban mai đứng trước biển; Thơ tình Hồ Núi Cốc; Yên Lãng Hồ Chí Minh; Nôi đất Việt yêu thương; Mỏ than Hồng giữ lửa; Chọn giống sắn kháng CMD; Khoai Sắn Lúa Siêu Xanh; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Ngày Hạnh Phúc của em; CIP Peru và khoai Việt; Giấc mơ lành yêu thương; Hoàng Trung Trực đời lính; Hoàng Đình Quang bạn tôi; Một gia đình yêu thương; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-13-thang-9/

    QUẢNG BÌNH ĐẤT MẸ ƠN NGƯỜI
    Hoàng Kim

    Quảng Bình đất Mẹ ơn Người
    Tổ tiên cát bụi nhiều đời thành quê
    Đinh ninh như một lời thề
    Trọn đời trung hiếu để về dâng hương

    Lòng son trung chính biết ơn
    Quê hương chung đúc khí thiêng Quảng Bình
    Về quê kính nhớ Tổ tiên
    Mừng vui giữa chốn bạn hiền người thân

    Đất trời ngày mới thanh tân
    Thung dung thăm hỏi ân cần níu chân.
    Đường xuân như một dòng sông
    Việt Nam thống nhất thác ghềnh đến nơi.

    Hồn chính khí bốc lên ánh sáng
    Sáng choang ngọc đá giữa hoang tàn’.
    Tâm nhân văn lắng đọng tinh hoa
    Hoa Đất Hoa Người trong cõi Bụt

    THẦY BẠN LÀ LỘC XUÂN
    Hoàng Kim

    Tôi viết bài này để tỏ lòng biết ơn thầy bạn dưới mái trường Nông Lâm thân thương và làm món quà nhỏ thân tặng cho các em sinh viên nghèo hiếu học. Thầy, bạn là lộc xuân đời tôi mà nếu thiếu sự động viên, giúp đỡ này thì tôi không thể có được ngày hôm nay:“Em đã học nhiều gương sáng danh nhân. Hãy biết nhục, biết hèn mà lập chí. Thắp đèn lên đi em, ngọn đèn dầu bền bỉ. Sáng giữa đời lấp lánh một niềm tin”. xem tiếp
    https://hoangkimlong.wordpress.com/category/thay-ban-la-loc-xuan/

    Loc Nguyen 3aaaa

    Ảnh năm tháng không quên …

    Loc Nguyen va GD bac Buu
    Loc Long Kim Thong
    Loc Nguyen Ke  Thanh Viet Triet
    Gapban9

    TA HẸN EM UỐNG RƯỢU NGẮM TRĂNG
    Hoàng Kim

    Ta hẹn em uống rượu ngắm trăng
    Mấy khi đời có một người tri kỷ?
    Nâng chén nhé!
    Trăng vàng như giọt lệ
    Buồn ư em?
    Trăng vằng vặc trên đầu!

    Ta nhớ Anh ta xưa mưa nắng dãi dầu
    Khi biệt thế gian chọn trăng làm bạn
    “Trăng tán trời mưa, trăng quầng trời hạn”
    Dâu bể cuộc đời đâu chỉ trăm năm?

    “Mười lăm trăng qủa thật tròn
    Anh hùng thời vận hãy còn gian nan
    Đêm trăng nhát cuốc xới vàng
    Trăng dòm, ta hẹn, trăng càng dòm thêm
    Đất vàng, vàng ánh trăng đêm
    Đêm khuya, ta với nàng quên nhọc nhằn”

    Ta mời em uống rượu ngắm trăng
    Mấy khi đời có một người tri kỷ?
    Nâng chén nhé!
    Trăng vàng như giọt lệ
    Vui ư em?
    Trăng lồng lộng trên đầu!

    Ta nhớ Bạn ta vào tận vùng sâu
    Để kiếm tìm ta, người thanh xứ núi
    Cởi bỏ cân đai xênh xang áo mũ
    Rượu đế, thưởng trăng, chân đất, đũa tre.

    “Hoa mận chờ trăng nhạt bóng đêm
    Trăng lên vời vợi vẫn êm đềm
    Trăng qua vườn mận, trăng thêm sáng
    Mận đón trăng về, hoa trắng thêm”

    Ta cùng em uống rượu ngắm trăng
    Ta có một tình yêu lặng lẽ
    Hãy uống đi em!
    Mặc đời dâu bể.
    Trăng khuyết lại tròn
    Mấy kẻ tri âm?

    “Trăng sáng lung linh, trăng sáng quá!
    Đất trời lồng lộng một màu trăng
    Dẫu đêm khuya vắng người quên ngắm
    Trăng vẫn là trăng, trăng vẫn rằm”

    BAN MAI ĐỨNG TRƯỚC BIỂN
    Hoàng Kim

    Đảo Yến trong mắt ai
    Ban mai đứng trước biển
    Thăm thẳm một tầm nhìn
    Vị tướng của lòng dân

    Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là deongang.jpg

    ĐÈO NGANG VÀ NHỮNG TUYỆT PHẨM THƠ CỔ
    Hoàng Kim

    Trèo đèo hai mái chân vân / Lòng về Hà Tĩnh, dạ ân Quảng Bình”. Đèo Ngang là con đèo lịch sử đã đi vào ca dao, huyền thoại. Nhiều danh nhân- thi sĩ như Lê Thánh Tông, Nguyễn Thiếp, Vũ Tông Phan, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Bà huyện Thanh Quan,  Cao Bá Quát, Hồ Chí Minh … đã lưu dấu tại đèo Ngang những tuyệt phẩm thơ. Đặc biệt, bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện Thanh Quan rất nổi tiếng.

    Lê Thánh Tông (1442 – 1497) là vị Hoàng đế thứ 5 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông trị vì từ năm 1460 đến 1497, tổng cộng 37 năm. Ông nổi tiếng là vị minh quân, là người đã đưa Đại Việt lên tới thời hoàng kim của chế độ phong kiến. Ông cũng được xem là một nhà văn hoá và một người coi trọng hiền tài. Lê Thánh Tông trên đường chinh phục Chiêm Thành năm 1469 có bài Di Luân hải tần (Cửa Roòn) gửi Ma Cô (đền thiêng thờ công chúa Liễu Hạnh, ở xã Quảng Đông nam Đèo Ngang)

    CỬA ROÒN
    Lê Thánh Tông (*)

    Tây Hoành Sơn thấy rõ Di Luân
    Cát trải mênh mông tiếp biển gần
    Sóng nước đá nhô xây trạm dịch
    Gió sông sóng dựng lập đồn quan
    Muối Tề sân phố mời thương khách
    Rượu Lỗ quầy bàn tiếp thị dân
    Muốn nhắn Ma Cô  nhờ hỏi giúp
    Bụi trần Nam Hải có xua tan.

    Trần Châu Báu Di Luân cẩn dịch

    DI LUÂN HẢI TẤN

    Hoành Sơn tây vọng thị Di Luân
    Diễu diễu bình sa tiếp hải tần
    Yên thủy sa đầu phân dịch thứ
    Phong đào giang thượng kiến quan tân
    Tề diêm trường phố yêu thương khách
    Lỗ tửu bồi bàn túy thị nhân
    Dục phỏng Ma Cô bằng ký ngữ
    Nam minh kim dĩ tức dương trần.

    Nguyễn Thiếp, (1723 – 1804), là nhà giáo, danh sĩ cuối đời Hậu Lê và Tây Sơn trong lịch sử Việt Nam. Ông được vua Quang Trung rất nể trọng. Nguyễn Thiếp đã hiến kế cho vua Quang Trung ” “Người Thanh ở xa tới mệt nhọc không biết tình hình khó dễ thế nào. Vả nó có bụng khinh địch, nếu đánh gấp thì không ngoài mười ngày sẽ phá tan. Nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được nó”. Ông đồng thời cũng là người dâng ba kế sách “quân đức, dân tâm, học pháp”, dùng chữ Nôm thay chữ Hán để tạo thế lâu bền giữ nước, xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô nơi đất khởi nghiệp Hồ Phi Phúc (tổ nghiệp của nhà Tây Sơn) để sâu rễ bền gốc. Vào khoảng đầu năm 1803, lúc Nguyễn Thiếp 80 tuổi, lúc vua Quang Trung đã mất, vua Quang Toản không giữ được cơ nghiệp,  vua Gia Long nhà Nguyễn thắng nhà Tây Sơn đã triệu ông vào gặp vua tại Phú Xuân để hỏi việc nước. Nghe vị chúa này tỏ ý muốn trọng dụng, ông lấy cớ già yếu để từ chối, rồi xin về. Trên đường về, khi qua đỉnh đèo Ngang, ông đã cảm khái đọc bài thơ Nôm:

    ĐÃ TRÓT LÊN ĐÈO PHẢI XUỐNG ĐÈO
    Nguyễn Thiếp

    Đã trót lên đèo, phải xuống đèo
    Tay không mình tưởng đã cheo leo
    Thương thay thiên hạ người gồng gánh
    Tháng lọn ngày thâu chỉ những trèo!

    Danh sĩ Ngô Thì Nhậm (1746–1803),  nhà văn, nhà mưu sĩ đời hậu Lê–Tây Sơn, người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh cũng cảm khái khi “lên đèo Ngang ngắm biển”. Bài thơ cao khiết, bi tráng, mang sắc thái thiền.

    LÊN ĐÈO NGANG NGẮM BIỂN
    Ngô Thì Nhậm

    Bày đặt khen thay thợ hóa công,
    Khéo đem hang cọp áp cung rồng.
    Bóng cờ Trần đế (1) dường bay đó,
    Cõi đất Hoàn vương (2) thảy biến không.
    Chim đậu lùm xanh, xanh đã lão,
    Ngạc đùa sóng bạc, bạc nên ông.
    Việc đời bọt nổi, xưa nay thế,
    Phân họp giành trong giấc hạc nồng (3)

    Bản dịch của Nguyễn Sĩ Lâm

    ĐĂNG HOÀNH SƠN VỌNG HẢI

    Tạo hóa đương sơ khổ dụng công,
    Khước tương hổ huyệt xấn giao cung.
    Hoàn vương phong vực qui ô hữu,
    Trần đế tinh kì quải thái không.
    Tình thụ thê cầm thương dục lão,
    Nộ đào hí ngạc bạch thành ông.
    Vô cùng kim cổ phù âu sự.
    Phân hợp du du hạc mộng trung.

    Chú thích:
    (1) Trần đế:Các vua đời Trần.
    (2) Hoàn vương: Chiêm Thành.
    (3) Giấc hạc: Giấc mộng hạc. Câu thơ ý nói cuộc tranh giành đất đai giữa Đằng Ngoài và Đằng Trong chẳng qua chỉ là giấc mộng trần thế sẽ tiêu tan.

    Đại thi hào Nguyễn Du (1765-1820) có bài thơ “Qua đèo Ngang” trong Hải Ông Tập;  họa vần bài thơ “năm Giáp Dần (1794), vâng mệnh vào kinh Phú Xuân, lúc lên đường lưu biệt các bạn ở Bắc Thành” của Hải Ông Đoàn Nguyễn Tuấn  ( Đoàn Nguyễn Tuấn là con Đoàn Nguyễn Thục, đỗ Hương Cống đời Lê, có chiêu mộ người làng giúp Trịnh Bồng đánh Chỉnh, sau ra giúp Tây Sơn, làm đến chức Tả Thị Lang Bộ Lại, tước Hải Phái Bá. Có đi sứ Trung Quốc năm 1790 và có tập thơ nhan đề Hải Ông tập. Ông là anh vợ Nguyễn Du, hơn Nguyễn Du khoảng 15 tuổi). Đọc bài thơ này của Nguyễn Du để hiểu câu thơ truyện Kiều  “Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”.

     

    QUA ĐÈO NGANG
    Nguyễn Du
    Họa Hải Ông  Đoàn Nguyễn Tuấn

    Tiến về Nam qua đèo Ngang
    Hành trình đầy đủ gươm đàn mang theo
    Thuốc thần nào đã tới đâu
    Mảnh da beo vẫn mối đầu lụy thân
    Ánh mầu nước, chén rượu xanh
    Dõi theo vó ngựa một vành trăng quê
    Gặp gia huynh  hỏi xin thưa
    Đường cùng tôi gặp, tóc giờ điểm sương

    HỌA HẢI ÔNG ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

    Hoành Sơn sơn ngoại lĩnh nam trình
    Cần kiếm tương thùy thướng ngọc kinh
    Thỏ tủy vị hoàn tân đại dược
    Báo bì nhưng lụỵ cựu phù danh
    Thương minh thủy dẫn bôi trung lục
    Cố quốc thiềm tùy mã hậu minh
    Thử khứ gia huynh như kiến vấn
    Cùng đồ bạch phát chí tinh tinh

    Nguyễn Tâm Hàn phỏng dịch

    Danh sĩ Vũ Tông Phan, (1800 – 1851),  nhà giáo dục, người có công lớn trong việc chấn hưng văn hóa Thăng Long thời vua Minh Mệnh cũng có bài thơ “Qua lũy Ninh Công nhớ chuyện xưa” rất nổi tiếng:

    QUA LỦY NINH CÔNG NHỚ CHUYỆN XƯA
    Vũ Tông Phan

    Đất này ví thử phân Nam, Bắc
    Hà cớ năm dài động kiếm dao?
    Trời tạo Hoành Sơn còn chẳng hiểm,
    Người xây chiến lũy tổn công lao.
    Thắng, thua rốt cuộc phơi hoang mộ,
    Thù hận dư âm rợn sóng đào.
    Thiên hạ nay đà quy một mối
    Non sông muôn thuở vẫn thanh cao.

    QÚA NINH CÔNG LŨY HOÀI CỔ

    Nhược tương thử địa phân Nam Bắc,
    Hà sự kinh niên động giáp bào?
    Thiên tạo Hoành Sơn do vị hiểm,
    Nhân vi cô lũy diệc đồ lao.
    Doanh thâu để sự không di chủng,
    Sát phạt dư thanh đái nộ đào.
    Vũ trụ như kim quy nhất thống,
    Mạc nhiên sơn thủy tự thanh cao.

    Người dịch: Vũ Thế Khôi
    Nguồn: Đào Trung Kiên (Thi Viện)

    Chu Thần Cao Bá Quát (1809 – 1855) là quốc sư của cuộc nổi dậy Mỹ Lương, và là một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam. Cao Bá Quát có hai bài thơ viết ở đèo Ngang đó là Đăng Hoành Sơn (Lên núi Hoành Sơn) và Hoành Sơn Quan (Ải Hoành Sơn)

    LÊN NÚI HOÀNH SƠN
    Cao Bá Quát

    Muôn dặm đường đi núi lẫn đồi,
    Bên non cỏ nội tiễn đưa người.
    Ai tài kéo nước nghìn năm lại ?
    Trăm trận còn tên một lũy thôi.
    Ải bắc mây tan mưa dứt hạt,
    Thôn nam nắng hửng sớm quang trời.
    Xuống đèo mới biết lên đèo khổ,
    Trần lụy, sao đành để cuốn lôi ?

    ĐĂNG HOÀNH SƠN

    Sơn ngại thanh sơn vạn lý Trình,
    Sơn biên dã thảo tống nhân hành.
    Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc,
    Chinh chiến không tồn nhất lũy danh.
    Bắc lĩnh đoạn vân thu túc vũ,
    Nam trang sơ hiểu đái tân tình,
    Há sơn phản giác đăng sơn khổ,
    Tự thán du du ủy tục tình!

    Người dịch: Nguyễn Quý Liêm
    Nguồn: Lương Sơn Thi Đàn

    ẢI HOÀNH SƠN
    Cao Bá Quát

    Non cao nêu đất nước,
    Liền một dẫy ra khơi.
    Thành cũ trăm năm vững,
    Ải xa nghìn dặm dài.
    Chim về rừng lác đác,
    Mây bám núi chơi vơi.
    Chàng Tô nấn ná mãi,
    Tấm áo rách tơi rồi.

    HOÀNH SƠN QUAN

    Địa biểu lập sàn nhan,
    Liêu phong đáo hải gian.
    Bách niên khan cổ lũy,
    Thiên lý nhập trùng quan.
    Túc điểu sơ đầu thụ,
    Qui vân bán ủng sơn.
    Trì trì Tô Quí tử,
    Cừu tệ vị tri hoàn.

    Bản dịch của Hóa Dân
    Nguồn: Lương Sơn Thi Đàn

    Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969) nhà cách mạng, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ 20. Hai bài thơ của Bác Hồ lúc 5 tuổi, là hai bài đồng dao của Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành, tên thuở nhỏ của Hồ Chí Minh ) tại đèo Ngang, trong chuyện kể “Tất Đạt tự ngôn” được Sơn Tùng ghi lại. Đó cũng là những câu thơ lưu lạc, huyền thoại giữa đời thường. Câu chuyện “đường lưỡi bò” và lời đồng dao “Biển là ao lớn, Thuyền là con bò” “Em nhìn thấy trước, Anh trông thấy sau” của cậu bé Nguyễn Sinh Cung “nói” năm 1895 mà  Sơn Tùng đã ghi lại và in trên báo Cứu Quốc lần đầu năm 1950. Câu chuyện trẻ con đan xen những ẩn khuất lịch sử chưa được giải mã đầy đủ về Quốc Cộng hợp tác, tầm nhìn Hoàng Sa, Trường Sa của Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1424-1427, lúc mà Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Lý Thụy làm phiên dịch cho Borodin trưởng đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô tới Quảng Châu giúp chính phủ Trung Hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch.

    KHÔNG ĐỀ
    Nguyễn Sinh Cung, 1895

    Núi cõng con đường mòn
    Cha thì cõng theo con
    Núi nằm ì một chỗ
    Cha thì cúi lom khom
    Đường bám lì lưng núi
    Con tập chạy lon ton
    Cha siêng hơn ngọn núi
    Con đường lười hơn con.

    Biển là ao lớn.
    Thuyền là con bò
    Bò ăn no gió
    Lội trên mặt nước
    Em nhìn thấy trước
    Anh trông thấy sau
    Ta lớn mau mau
    Vượt qua ao lớn.

    Bà Huyện Thanh Quan (1805-1848), tên thật là Nguyễn Thị Hinh, là một nhà thơ nữ nổi tiếng trong thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam với  bàithơ “Qua đèo Ngang’, một tuyệt phẩm thơ cổ, được người đời  truyền tụng hơn cả (1) (2).

    QUA ĐÈO NGANG
    Bà huyện Thanh Quan

    Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
    Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
    Lom khom dưới núi tiều vài chú
    Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
    Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
    Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
    Dừng chân đứng lại trời, non, nước
    Một mảnh tình riêng ta với ta.

    Bài thơ này của Bà Huyện Thanh Quan
    được Nguyễn Văn Thích dịch thơ chữ Hán

    BỘ ĐÁO HOÀNH QUAN

    Bộ đáo Hoành Quan nhật dĩ tà,
    Yên ba gian thạch, thạch gian hoa.
    Tiều quy nham hạ, ta ta tiểu,
    Thị tập giang biên, cá cá đa.
    Đỗ vũ tâm thương, thanh quốc quốc,
    Giá cô hồn đoạn, tứ gia gia.
    Đình đình trữ vọng: thiên, sơn, hải,
    Nhất phiến cô hoài, ta ngã ta.

    Bản dịch chữ Hán của Nguyễn Văn Thích

    QUÁ HOÀNH SƠN

    Quá Hoành Sơn đỉnh tịch dương tà
    Thảo mộc tê nham diệp sấn hoa
    Kỳ khu lộc tế tiều tung yểu
    Thác lạc giang biên điếm ảnh xa
    Ưu quốc thương hoài hô quốc quốc
    Ái gia quyện khẩu khiếu gia gia
    Tiểu đình hồi vọng thiên sơn thuỷ
    Nhất phiến ly tình phân ngoại gia.

    Bản dịch chữ Hán của Lý Văn Hùng.

    Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ, nơi lưu dấu những huyền thoại (2).

    Hoàng Kim

    (1) Hoàng Đình Quang họa vần “Qua đèo Ngang” với lời bình xác đáng:

    Thế sự mông lung lộn chính tà
    Quần hồng ghi dấu bậc tài hoa
    Sáu bài thơ cổ lưu tên phố (*)
    Nửa thế kỷ nay đánh số nhà (**)
    Khanh tướng chắc gì nên vọng tộc
    Câu thơ còn đó lập danh gia
    Chẳng bia, chẳng tượng, không đến miếu
    Ngẫm sự mất còn khó vậy ta?

    (*) Toàn bộ sự nghiệp thơ ca của Bà Huyện Thanh Quan chỉ còn lại 6 bài, trong đó có 2 bài được coi là kiệt tác: Qua đèo Ngang Thăng Long thành hoài cổ.
    (**) Từ năm 1955, chính quyền Việt Nam (miền Nam) chính thức đặt tên đường Bà Huyện Thanh Quan cho một đường phố của thành phố Sài Gòn, (thay thế tên cũ Flandin do người Pháp) và tồn tại cho đến ngày nay.

    (2) Qua đèo chợt gặp mai đầu suối, Hoàng Kim đã thuật lại câu chuyện “Tầm hữu vị ngộ Hồ Chí Minh”  do cố Bộ trưởng Xuân Thủy kể trên đỉnh đèo Ngang năm 1970. “Nghìn dặm tìm anh chẳng gặp anh/ Đường về vó ngựa dẫm mây xanh/ Qua đèo chợt gặp mai đầu suối/ Đóa đóa vàng tươi xuân thắm cànhBài thơ kỳ lạ này của Bác Hồ đăng trên báo khoảng năm 1970 ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc không dễ thấy, là thơ Bác Hồ mà ít thấy sách báo nào nhắc đến gần nửa thế kỷ qua“.

    Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là deongang1.jpg
    Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là kimlongdeongang-1.jpg


    Đỉnh đèo Ngang , ranh giới Hà Tĩnh Quảng Bính nơi lưu giấu huyền thoại “Qua đèo chợt gạp mai đầu suối”. Mộ bác Giáp an táng tại mũi Rồng gần vũng Chùa nam đèo Ngang (ảnh đầu trang).

    DeoNgang2


    Đỉnh đèo Ngang chốn xưa nơi lắng đọng câu chuyện

    Hình ảnh này chưa có thuộc tính alt; tên tệp của nó là deongang3.jpg

    Qua đèo Chợt gặp mai đầu suối. Hoành Sơn nơi ẩn giấu những huyển thoại Hoàng Kim

    Bình yên đảo Yến. (QBĐT) Đảo Yến nằm cách Đèo Ngang 7 km về phía nam, thuộc thôn Thọ Sơn, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Hòn đảo này mang vẻ đẹp hoang sơ, yên bình và được bao quanh bởi màu xanh ngút ngàn của cây cỏ. Cùng với Vũng Chùa nơi yên nghỉ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Vũng Chùa Đảo Yến sẽ là điểm đến giá trị, kết nối với Hoành Sơn Quan, đền thờ Liễu Hạnh Công Chúa… tạo thành một tuyến du lịch đầy thu hút. Nguồn video: Bình yên đảo Yến báo Quảng Bình điện tử người thực hiện: Diệu Hương, Xuân Hoàng, Nguyễn Chiến

    HoNuiCoc01

    THƠ TÌNH HỒ NÚI CỐC
    Hoàng Kim

    Anh đến tìm em ở Bến Mơ
    Một trời thu đẹp lắng vào thơ
    Mênh mang mường Mán mình mong mỏi
    Lấp loáng luồng Lưu lượn lững lờ
    Núi Cốc chùa Vàng xao xuyến đợi
    Sông Công đảo Cái ước mong chờ
    Nham Biền, Yên Lãng uy nghi quá
    Tam Đảo, Trường Yên dạ ngẫn ngơ.

    Hồ Núi Cốc là quần thể du lịch sinh thái thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên cách trung tâm thành phố 15 km về hướng Tây Nam theo lộ Đán -Tân Cương – núi Cốc. Nơi đây có núi Cốc, sông Công, hồ núi Cốc – vịnh Hạ Long, hồ trên núi – với diện tích mặt hồ khoảng 25 km2. Đền Hồ Chí Minh trên rừng Yên Lãng, đỉnh đèo De dưới là mỏ than núi Hồng giữ ngọn lửa thiêng, vùng huyền thoại chuyện tình yêu thương. Đảo Cái lưu dấu những cổ vật đặc biệt quý hiếm. Chùa Vàng và đền bà chúa Thượng Ngàn nổi tiếng. Đây là vùng đất địa linh của tam giác châu giữa lòng của vòng cung Đông Triều với dãy Tam Đảo có 99 ngọn Nham Biền chạy xuống Yên Tử , trường thành chắn Bắc (hướng kia là dãy Tản Viên 99 ngọn chạy dọc sông Đáy tới Thần Phù, Nga Sơn nối Trường Sơn tạo thế trường tồn và mở mang cho dân tộc Việt. Đây là vùng thiên nhiên trong lành, suối nguồn tươi trẻ, lưu dấu tích anh hùng, mỹ nhân trong vầng trăng, bóng nước giữa rừng…
    Nôi đất Việt yêu thương/ Mỏ than Hồng giữ lửa/ Thơ tình Hồ Núi Cốc / Yên Lãng Hồ Chí Minh/ Đền Bà Chúa Thượng Ngàn / Chợt gặp mai đầu suối/ Thanh trà Thủy Biều Huế/ Mai Hạc vầng trăng soi/ Cánh cò bay trong mơ/ Một niềm tin thắp lửa/ Giấc mơ lành yêu thương / Đồng xuân lưu dấu hiền

    Những tác phẩm âm nhạc vượt thời gian
    Dạy và học 12 tháng 9


    DẠY VÀ HỌC 12 THÁNG 9
    Hoàng Kim
    CNM365 Tình yêu cuộc sốngChọn giống sắn kháng CMD; Khoai Sắn Lúa Siêu Xanh; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Ngày Hạnh Phúc của em; CIP Peru và khoai Việt; Giấc mơ lành yêu thương; Hoàng Trung Trực đời lính; Hoàng Đình Quang bạn tôi; Một gia đình yêu thương; Ngày 12 tháng 9 năm 1959, Liên Xô phóng tàu vũ trụ Luna 2 lên Mặt Trăng từ sân bay vũ trụ Baykonur, Kazakhstan. Đây là vùng trung tâm châu Á, trọng điểm của “Vành đai và con đường” trong chiến lược Trung Quốc “Liên Nga, bạn Ấn, mở rộng Á Âu Phi”.Ngày 12 tháng 9 năm 1890, Harare, thủ đô Zimbabwe, được thành lập bởi những người định cư. Ngày 12 tháng 9 năm 1921, ngày sinh Lưu Hữu Phước, một trong những nhạc sĩ nổi tiếng, tiên phong của tân nhạc Việt Nam (mất năm 1989). Ngày 12 tháng 9 năm 2017 ngày mất nhạc sĩ Thanh Tùng, tác giả bài thơ Thời hoa đỏ (1972), được Nguyễn Đình Bảng phổ nhạc, là một trong những bản tình ca hay nhất của ca khúc Việt Nam thời đổi mới. Bài chọn lọc ngày 12 tháng 9: Chọn giống sắn kháng CMD; Khoai Sắn Lúa Siêu Xanh; Hoàng Thành đến Trúc Lâm; Ngày Hạnh Phúc của em; CIP Peru và khoai Việt; Giấc mơ lành yêu thương; Hoàng Trung Trực đời lính; Hoàng Đình Quang bạn tôi; Một gia đình yêu thương; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-12-thang-9/

    Khoai Sắn Lúa Siêu Xanh
    DẺO THƠM HẠT NGỌC VIỆT
    Hoàng Kim, Hoàng Long và đồng sự

    Hoàng Kim cảm nhận Hoàng Long lời tác giả. Hoàng Long chuyển cho tôi tập tài liệu bài giảng Cây Lương thực Việt Nam để tôi giúp chuẩn thông tin cho những sản phẩm giống cây lương thực nổi bật Giống lúa GSR65, GSR90, giống sắn KM419, giống khoai lang Hoàng Long, HL518 (Nhật Đỏ), HL419 (Nhật tím), Yêu cầu của sản xuất cần những thông tin khoa học thực tiễn chân thực lắng đọng. Dịp ấy, tôi bận đi Quảng Bình, nhưng vì việc này quá cấp thiết, và khi đọc ‘Lời nói đầu’ tôi đã thực sự xúc động . Hoàng Long viết: “Tài liệu mỏng này cung cấp một bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ của chính tác giả và đồng sự sau mười năm nghiên cứu ứng dụng lúa siêu xanh (Green Super Rice) vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam, với một số kết quả bước đầu đã được xác định, để chúng tôi tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu, giảng dạy, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới, bảo tồn phát triển lúa siêu xanh Việt Nam cho thương hiệu gạo Việt Nam. Kính chúc bà con nông dân những vụ mùa thu hoạch bội thu”. Tôi hiểu rõ và thật sự đồng cảm sâu sắc với con tôi về ước mơ, nghị lực, trí tuệ, nổ lực với một ít thành quả bước đầu trên cây lúa cũng như của chính chúng tôi đã trãi nghiệm và thấm hiểu thật rõ ràng mỗi tiến bộ giống cây trồng và kỹ thuật công nghệ thâm canh thì gian khổ đến đâu. Dẻo thơm ngọc cho đời Đắng lòng thương vị mặn;xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/deo-thom-hat-ngoc-viet/

    LÚA SIÊU XANH VIỆT NAM
    Giống tốt và kỹ thuật thâm canh
    TS. Hoàng Long và đồng sự


    Lúa Siêu Xanh Việt Nam giống tốt và kỹ thuật thâm canh là khâu trọng yếu, đầu tiên để cải tiến chuỗi giá trị sản phẩm lúa gạo Việt Nam, bảo tồn và phát triển bền vững ngành lúa gạo, thích ứng với biến đổi khí hậu, thích hợp với các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ Việt Nam khẳng định tầm nhìn, cơ chế, chính sách mới nhằm khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn tại Nghị định 57/2018 / ND-CP. Theo đó, trục sản phẩm chính nhắm đến các sản phẩm chính quốc gia, trong khi lúa gạo vẫn tiếp tục là ngành chính của nông nghiệp Việt Nam, giá đỡ của an sinh xã hội và phát triển kinh tế, là sinh kế chính của vùng nông thôn rộng lớn, lao động và việc làm. Chuỗi giá trị sản phẩm lúa gạo ở cấp tỉnh cần đủ lớn, liên kết các khu vực nguyên liệu thô với các thương hiệu, ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và đào tạo nguồn nhân lực. Mục tiêu hướng tới sự đáp ứng tốt nhất chất lượng cuộc sống của người lao động, đạt hiệu quả cao trong tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, tiến bộ và công bằng xã hội. Mục đích của cuốn sách này là nhằm cung cấp thông tin về các kết quả nghiên cứu đã được xác định rõ ràng để giúp người nông dân nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất lúa gạo đi đôi với việc bảo vệ đất đai và môi trường. Sách được thiết kế như một cẩm nang nghề lúa gạo cần thiết cho các nhà nghiên cứu, cán bộ khuyến nông, cán bộ tổ chức phi chính phủ làm việc về phát triển nông nghiệp, cũng như các hộ nông dân trồng lúa quy mô nông hộ sản xuất lớn và nhỏ. Tài liệu nhỏ này cung cấp một hông tin tham khảo kỹ lưỡng về thực hành sản xuất lúa thân thiện môi trường. Từ việc trình bày ngắn gọn tầm quan trọng lúa gạo trên thế giới và Việt Nam; sản xuất tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam; thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế lúa gạo; nguồn gốc vùng phân bố và phân loại cây lúa; Sinh học cây lúa: Đặc điểm thực vật học cây lúa (rễ, thân, lá, hoa, hạt) Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa Đặc điểm sinh lý của ruộng lúa năng suất cao; Khí hậu và đất lúa, tầm quan trọng của nó trong khu vực để đề xuất chi tiết về quản lý đất nước và cây trồng, giống mới và kỹ thuật thâm canh lúa. Tài liệu mỏng này cung cấp một bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ của chính tác giả và đồng sự sau mười năm nghiên cứu ứng dụng lúa siêu xanh (Green Super Rice) vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp Việt Nam, với một số kết quả bước đầu đã được xác định để tiếp tục sự nghiên cứu, giảng dạy, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật mới, bảo tồn phát triển lúa siêu xanh Việt Nam cho thương hiệu gạo Việt. Kính chúc bà con nông dân những mùa thu hoạch bội thu.

    Lúa Siêu Xanh Việt Nam
    CÂY LÚA VÀ HẠT GẠO
    Lời ngỏ cho tập sách mỏng


    Hoàng Kim nói với
    Hoang Long, Nguyễn Văn Phu, Nguyễn Thị Trúc Mai, Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Trọng Tùng và những đồng sự thân thiết:

    Tôi mắc nợ ý tưởng “Nấu cơm” của một người bạn nên hôm nay tạm đưa lên một hình để trả lời cho một mục trong chùm bài viết “Lúa Siêu Xanh Việt Nam” và ” Con đường lúa gạo Việt Nam “. Anh Nam Sinh Đoàn viết như vầy: “Ngoài đồng giống lúa không thuần, nhà nông lười khử giống bị lẫn, giống dại. Cộng với nhà lái mua vào để lẫn, hoặc cố tình pha lẫn lấy lời. Ai đời trộn lẫn hột dài với hột hơi tròn, gạo dẽo với gạo cứng cơm, gạo cũ với gạo mới, … Chính vì vậy mà nồi cơm nào cũng chỗ nhão chỗ khô, hạt mềm nhẽo cạnh hạt còn tim bột. (Chưa kể phun thêm hương liệu, chất chống mốc mọt,…thay đổi cả đặc tính hạt gạo khi đun nấu). Nhiều năm làm lúa với anh Hồ Quang Cua, mới có dịp học hỏi về việc làm giống, giữ đặc trạng của từng giống, cách thức trồng trọt – thu hoạch – tồn trữ – xay xát – lựa lọc – bao bì,…cả chục việc đòi hỏi phải chắc tay. Thế mà khi thí nghiệm trên bàn của nhóm chuyên gia còn lòi ra bao thứ khác: thời gian ngâm, tỉ lệ nước, thời gian đun và cách đun nấu, … Ví dụ, với cùng một thứ gạo, nhưng có dòng nở ít, thì chỉ 70-71% nước. Loại nào nở cơm thì ngâm trước 15 phút, loại nở búp chỉ cần mươi phút là được. Lại còn tùy loại gạo, để ăn xào với rau, gia vị cho có màu mùi như kiểu châu Âu thì nấu bằng nồi hơi như nồi hong. Để còn làm cơm xào, cơm chiên thì chớ ngâm nhiệt, tức là ngâm gạo, đun nước vừa nóng chừng 50 độ hãy cho gạo vào theo đúng tỉ lệ, mới đạt yêu cầu. Câu nói: Cơm lành canh ngọt tưởng dễ mà khó thay”. Tôi (Hoàng Kim) trả lời: Thưa anh, xin hãy nhìn tấm ảnh, từ hạt gạo đến bát cơm chỉ là một phần ngắn trong chuỗi “hoa lúa, bùn, hột lúa, cây lúa, hạt gạo, bát cơm”. Hai khâu khó nhất và nhọc nhằn nhất là hoa lúa và bùn.

    KHOAI SẮN LÚA SIÊU XANH

    CÂY LƯƠNG THỰC VIỆT NAM
    Hoàng Kim, Hoàng Long (chủ biên) và đồng sự
    http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlong

    Bài viết mới (đọc thêm, ngoài giáo trình, bài giảng)

    Cách mạng sắn Việt Nam
    Chọn giống sắn Việt Nam
    Chọn giống sắn kháng CMD
    Giống sắn KM419 và KM440
    Mười kỹ thuật thâm canh sắn
    Sắn Việt bảo tồn phát triển
    Sắn Việt Lúa Siêu Xanh
    Sắn Việt Nam bài học quý
    Sắn Việt Nam sách chọn
    Sắn Việt Nam và Howeler
    Sắn Việt Nam và Kawano
    Sắn Việt và Sắn Thái
    Quản lý bền vững sắn châu Á
    Cassava and Vietnam: Now and Then

    Lúa siêu xanh Việt Nam
    Giống lúa siêu xanh GSR65
    Giống lúa siêu xanh GSR90
    Gạo Việt và thương hiệu
    Hồ Quang Cua gạo ST
    Cơm Niêu Vàng Gạo Đông A
    Con đường lúa gạo Việt
    Chuyện cô Trâm lúa lai
    Chuyện thầy Hoan lúa lai
    Lúa C4 và lúa cao cây
    Lúa sắn Cămpuchia và Lào
    Lúa sắn Việt Châu Phi
    Lúa Việt tới Châu Mỹ

    Giống ngô lai VN 25-99
    Giống lạc HL25 Việt Ấn


    Giống khoai lang Việt Nam
    Giống khoai lang HL518
    Giống khoai lang HL491
    Giống khoai Hoàng Long
    Giống khoai lang HL4
    Giống khoai Bí Đà Lạt

    Việt Nam con đường xanh
    Việt Nam tổ quốc tôi
    Vườn Quốc gia Việt Nam
    Nông nghiệp công nghệ cao
    Nông nghiệp sinh thái Việt
    Nông nghiệp Việt trăm năm
    IAS đường tới trăm năm
    Viện Lúa Sao Thần Nông
    Hoàng Thành đến Trúc Lâm
    Ngày Hạnh Phúc của em
    Có một ngày như thế

    Thầy bạn là lộc xuân
    Thầy bạn trong đời tôi
    Sóc Trăng Lương Định Của
    Thầy Quyền thâm canh lúa
    Borlaug và Hemingway
    Thầy Luật lúa OMCS OM
    Thầy Tuấn kinh tế hộ
    Thầy Tuấn trong lòng tôi
    Thầy Vũ trong lòng tôi
    Thầy lúa xuân Việt Nam
    Thầy Ngoạn Hồ Núi Cốc
    Thầy bạn Vĩ Dạ xưa
    Thầy Dương Thanh Liêm
    Thầy Hiếu Đêm Giáng Sinh
    Phạm Trung Nghĩa Viện Lúa
    Phạm Quang Khánh Hoa Đất
    Phạm Văn Bên Cỏ May

    24 tiết khí nông lịch
    Nông lịch tiết Lập Xuân
    Nông lịch tiết Vũ Thủy
    Nông lịch tiết Kinh Trập
    Nông lịch tiết Xuân Phân
    Nông lịch tiết Thanh Minh
    Nông lịch tiết Cốc vũ
    Nông lịch tiết Lập Hạ
    Nông lịch tiết Tiểu Mãn
    Nông lịch tiết Mang Chủng
    Nông lịch tiết Hạ Chí
    Nông lịch tiết Tiểu Thử
    Nông lịch tiết Đại Thử
    Nông lịch tiết Lập Thu
    Nông lịch Tiết Xử Thử
    Nông lịch tiết Bạch Lộ
    Nông lịch tiết
    Thu Phân
    Nông lịch tiết
    Hàn Lộ
    Nông lịch tiết
    Sương Giáng
    Nông lịch tiết Lập Đông
    Nông lịch tiết Tiểu tuyết
    Nông lịch tiết Đại tuyết
    Nông lịch tiết giữa Đông
    Nông lịch Tiết Tiểu Hàn
    Nông lịch tiết Đại Hàn

    Nhà sách Hoàng Gia

    Video Cây Lương thực chọn lọc :

    Cây Lương thực Việt NamChuyển đổi số nông nghiệp, Học không bao giờ muộnCách mạng sắn Việt Namhttps://youtu.be/81aJ5-cGp28; Mười kỹ thuật thâm canh sắn : Cassava in Vietnam Save and Grow 1Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 2Daklak; Cassava in Vietnam: Save and Grow 3Daklak; Giống sắn KM410 và KM440 ở Phú Yên https://youtu.be/XDM6i8vLHcI; Giống sắn KM419, KM440 ở Đăk Lăk https://youtu.be/EVz0lIJv2N4; Giống sắn KM419, KM440 ở Tây Ninh https://youtu.be/XMHEa-KewEk; https://youtu.be/kjWwyW0hkbU; https://youtu.be/9mZHm08MskE; Trồng sắn KM419, KM98-5, KM98-1 ở Căm pu chia https://youtu.be/TpTIxv9LaFQ; Ngăn chặn lây lan CWBD bệnh chổi rồng ở Căm pu chia https://youtu.be/0gNY0KZ2nyY; Trồng khoai lang ở Hàn Quốc https://youtu.be/J_6xW3j47Sw; Trồng lúa đặc sản ở Trung Quốc https://youtu.be/rJSZfrJFluw; Trồng khoai lang tím ở Trung Quốc https://youtu.be/0CHOG3r64xs;Trồng và chế biến khoai tây ở Trung Quốc https://youtu.be/0gNY0KZ2nyYv; Làm măng ngọt giá cao ở Trung Quốc https://youtu.be/i1oFFqFMlvI; Nghệ thuật làm vườn “The life of okra and bamboo fence” https://youtu.be/kPIzBRPezY4

    CHỌN GIỐNG SẮN KHÁNG CMD
    Nguyễn Thị Trúc Mai, Hoàng Kim, Hoàng Long, và đồng sự (*)
    Selection of cassava varieties resistant to CMD

    Ở Việt Nam, giống sắn KM419 và KM440 đến nay là phổ biến nhất, sau cả áp lực nặng của bệnh khảm lá CMD và bệnh chổi rồng CWBD.
    https://youtu.be/XDM6i8vLHcIhttps://youtu.be/kjWwyW0hkbU chúng tôi khuyên nông dân nên trồng các loại giống sạch bệnh KM568, KM535, KM419, KM440, KM94, KM140, KM98-1, HN5, HLS14 để khảo nghiệm DUS và VCU. Sắn Việt Nam bảo tồn và phát triển bền vững: xem thêm https://hoangkimlong.wordpress.com/category/chon-giong-san-khang-cmd/

    In  Vietnam, up to now, cassava varieties KM419 and KM440 are popular,  after even CMD and CWBD, https://youtu.be/XDM6i8vLHcI and https://youtu.be/kjWwyW0hkbU planting clean KM568, KM535, KM419, KM440, KM94, KM140, KM98-1, HN5, HLS14 for DUS and VCU trials remains our advice to farmer at this stage.  Cassava conservation and sustainable development in Vietnam: https://youtu.be/XMHEa-KewEk; https://youtu.be/5l9xPES76fU;

    Bệnh virus khảm lá CMD từ ban đầu Tây Ninh (2017) lan rộng trên 15 tỉnh thành Việt Nam (2018) là thách thức của các nhà khoa học. “V/v sử dụng giống sắn KM419 trong sản xuất” đã được Bộ NNPTNT xác định tại công văn chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp Phát triển Nông thôn, Cục Bảo vệ Thực vật số 1068/ BVTV ngày 3 tháng 5 năm 2019. Giống sắn KM419 có năng suất tinh bột cao nhất và diện tích trồng phổ biến nhất Việt Nam. Giống sắn KM419 chống chịu trung bình bệnh CMD và bệnh chổi rồng (CWBD), trong điều kiện áp lực 2 bệnh này ở Việt Nam hiện nay là rất cao. Sự cần thiết c

    Dạy và học 11 tháng 9


    ThapTuDo

    DẠY VÀ HỌC 11 THÁNG 9
    Hoàng Kim
    CNM365 Tình yêu cuộc sốngNam Mỹ trong mắt tôi; Nhiều bạn tôi ở đấy; Châu Mỹ chuyện không quên; Sóc Trăng Lương Định Của; Trung Quốc một suy ngẫm; Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn; Hoa Bình Minh Hoa Lúa; Câu chuyện ảnh tháng Chín; Lúa siêu xanh Việt Nam; Hoàng Trung Trực đời lính; Một gia đình yêu thương; Ông bà và con cháu; Ông già với các con; Ngày 11 tháng 9 năm 2001 Sự kiện 11 tháng 9. Các phần tử Al-Qaeda thực hiện các vụ tiến công tự sát nhằm vào các mục tiêu tại khu vực thành phố New York và Washington, D.C. tại Hoa Kỳ, làm 2.974 người thiệt mạng và 24 người liệt kê mất tích xem như đã chết Theo phúc trình của Ủy ban Quốc gia về vụ Khủng bố tại Hoa Kỳ, 19 không tặc đã biến những chiếc máy bay thành những quả bom tự sát lớn nhất trong lịch sử. Vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 là một trong những sự kiện quan trọng đáng chú ý nhất trong thế kỷ 21, và là một trong những vụ khủng bố gây thiệt hại nhiều nhất về tất cả các mặt kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, và quân sự của lịch sử Hoa Kỳ cũng như những nơi khác trên thế giới. Tháp Tự do (hình) là Tòa Trung tâm Thương mại Thế giới được khởi công vào ngày 27/4/2006, tọa lạc gần vị trí cũ của Tòa tháp đôi, trở thành tòa nhà cao nhất tại Mỹ khi hoàn thành. Ngày 11 tháng 9 năm 1792,  Viên kim cương Hope xanh đen saphir đẹp lộng lẫy phi thường và lớn nhất thế giới, cùng những châu báu vương thất bị đánh cắp trong tình hình hỗn loạn của Cách mạng Pháp. Hope lưu lạc với lời nguyền và nay được trưng bày tại Thủ đô Washington D.C của Mỹ trong Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Smithsonian với giá khoảng 250 triệu USD. Ngày 11 tháng 9 năm 1961, Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên mở cửa văn phòng đầu tiên tại Thụy Sỹ. Bài chọn lọc ngày 11 tháng 9: Nam Mỹ trong mắt tôi; Nhiều bạn tôi ở đấy; Châu Mỹ chuyện không quên; Sóc Trăng Lương Định Của; Trung Quốc một suy ngẫm; Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn; Hoa Bình Minh Hoa Lúa; Câu chuyện ảnh tháng Chín; Lúa siêu xanh Việt Nam; Hoàng Trung Trực đời lính; Một gia đình yêu thương; Ông bà và con cháu; Ông già với các con; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.comhttp://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-11-thang-9/

    KiminCIATColombia2003

    NAM MỸ TRONG MẮT TÔI
    Hoàng Kim


    Rừng mưa ẩm Amazon; sắn khoai đậu ngô bí, Không gian thật trong lành; Tộc người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha ưu thế; Lịch sử, địa chính trị, văn hóa và sắc tộc; sân sau của Hoa Kỳ;
    Đồng thuận Washington; “Thủy triều hồng” ngày nay;Thế sự bàn cờ vây; Thế giới trong mắt ai;

    Nam Mỹ và Việt Nam xa quá ! Tôi cơ may qua đó thầm nghĩ thật hiếm có, đời ít dịp trở lại. Thế nhưng, người đồng niên với tôi, con sư tử phương Đông thức dậy, lại đang liên kết “
    Thủy triều hồng“, làm sân sau Đồng thuận Washington nay không còn sự yên tĩnh nữa.

    Kim Notes ghi chú ấn tượng
    Châu Mỹ chuyện không quên là ký ức lắng đọng, tôi xin được lưu lại cho chính mình và bạn; Vận mệnh và may mắn giúp cho ta cơ hội. Nhớ bạn nhớ châu Phi là minh chứng kỳ lạ cho lời nguyền từ Nam Mỹ, phúc lành sử thi linh cảm tạo duyên may; xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nam-my-trong-mat-toi/

    NHIỀU BẠN TÔI Ở ĐẤY
    Hoàng Kim


    “Được mùa chớ phụ ngô khoai”
    Hoàng Kim thơ cho con, tôi đã từng viết: “Lớn lên Con sẽ hỏi Cha/ Sao Cha đặt tên Con là Hoàng Long?/Con ơi! /Tên Con là khúc hát yêu thương / Của lòng Cha Mẹ/ Cha Mẹ thương nhau/ Vì qúy trọng những điều ân nghĩa/ Sự nghiệp và tình yêu /Những ngày gian khổ/ Cùng nghiên cứu củ sắn, củ khoai / Con là giống khoai Hoàng Long/ Tỏa rộng nhiều vùng đất nước/ Dẫu không là trái thơm qủa ngọt /Nhưng là niềm vui người nghèo / Để Cha nhớ về quê hương / Khoai sắn bốn mùa vất vả/ Để Cha nhớ những ngày gian khổ /Năm năm / Cơm ngày một bữa/ Khoai sắn không phụ lòng /Để Cha nhớ về / Lon khoai nghĩa tình / Nắm khoai bè bạn / Gom góp giúp Cha ăn học /Khi vào đời /Cha gặp Mẹ con / Cho nên:/ Cha muốn Con /Trước khi làm những điều lớn lao / Hãy biết làm củ khoai, củ sắn / Hãy hướng tới những người lao động / Nhớ quê nghèo cắt rốn, chôn rau”. CIP khoai tây khoai lang / Peru và Philippines/ Nam Mỹ trong mắt tôi / Nhiều bạn tôi ở đấy;. Kim Notes ghi chú tuyển chọn hình ảnh nông nghiệp sinh thái lịch sử văn hóa du lịch ; xem tiếp http://hoangkimlong.wordpress.com/category/nhieu-ban-toi-o-day/.

    CHÂU MỸ CHUYỆN KHÔNG QUÊN
    Hoàng Kim
    Tôi đã nhiều lần tới châu Mỹ, tới cả Trung Mỹ, Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Đó là kinh nghiệm sống quý giá cho sự nghiên cứu và giảng dạy khoa học cây trồng, đặc biệt là cây lương thực. Tôi nhớ thầy Norman Boulaug và nhiều thầy bạn ở nơi ấy, nhớ đất. nhớ người. Tôi có thói quen chép lại ghi chú ngắn và ghi hình về kỷ niệm sau mỗi chuyến đi, lần này mới có dịp hệ thống lại. “Châu Mỹ chuyện không quên” lắng đọng trong lòng tôi những ký ức sâu sắc về công việc chuyên môn khoa học cây trồng, cây lương thực yêu thích, kết nối với đất nước, con người, bạn hữu, và nền văn hóa châu Mỹ. Tôi kể từ chuyến đi Mỹ lần đầu tiên năm 1988, cho tới nhiều lần về sau lắng đọng chuỗi trãi nghiệm thân thương với thầy bạn ở bên kia bờ đại dương. Ba nơi chính của châu Mỹ mà tôi may mắn được tới, đó là vùng vật liệu di truyền ở ba trung tâm khởi nguyên cây trồng toàn cầu của chúng tại Châu Mỹ gồm Trung tâm ngô và lúa mì quốc tế CIMMYT ở Mê hi cô. Trung tâm khoai lang và khoai tây quốc tế CIP ở Peru. Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới CIAT về sắn, đậu thực phẩm, lúa gạo châu Mỹ ở Côlômbia. Những điểm đến này tương tự như Viện Nông nghiệp Nhiệt đời Quốc tế IITA ở Nigeria châu Phí, Viện Nghiên cứu Cây trồng Quốc tế cho vùng Nhiệt đới Bán khô cằn ICRISAT ở Ấn Độ, và Viện Lúa quốc tế IRRI ở Philippines. Những chốn ấy cũng thật thân thuộc với tôi. Tại đấy sách chuyên khảo cây trồng, tạp chí, trang web, video thật phong phú, sâu sắc và thật đáng ao ước. Cũng từ đấy mà tôi may mắn được đi thăm thú rộng ra các vùng lân cận theo điều kiện và hoàn cảnh của mỗi chuyến đi.

    “Châu Mỹ chuyện không quên” là các bài học tình yêu cuộc sống trãi nghiệm cá nhân của các chuyến đi thực tế, với mục đích cung cấp các điểm nhấn tư liệu nông nghiệp sinh thái về cây lương thực châu Mỹ cho bạn đọc. Tác phẩm gồm 36 đường dẫn, tựa đề thơ ngũ ngôn, để dễ đọc dễ nhớ, ảnh chi tiết bấm link.

    Mục đích sau cùng của DẠY VÀ HỌC là thấu suốt bản chất sự vật, có lời giải đúng và LÀM được việc.
    Lời Thầy dặn thung dung.

    Châu Mỹ chuyện không quên
    Hoàng Kim

    Niềm tin và nghị lực
    Về lại mái trường xưa
    Hưng Lộc nôi yêu thương
    Năm tháng ở trời Âu

    Vòng qua Tây Bán Cầu
    CIMMYT tươi rói kỷ niệm
    Mexico ấn tượng lắng đọng
    Lời Thầy dặn không quên

    Ấn tượng Borlaug và Hemingway
    Con đường di sản Lewis Clark
    Sóng yêu thương vỗ mãi
    Đối thoại nền văn hóa

    Truyện George Washington
    Minh triết Thomas Jefferson
    Mark Twain nhà văn Mỹ
    Đi để hiểu quê hương

    500 năm nông nghiệp Brazil
    Ngọc lục bảo Paulo Coelho
    Rio phố núi và biển
    Kiệt tác của tâm hồn

    Giấc mơ thiêng cùng Goethe
    Chuyện Henry Ford lên Trời
    Bài đồng dao huyền thoại
    Bảo tồn và phát triển

    Sắn Việt Nam và Kawano
    Sắn Việt Nam và Howeler
    Một ngày với Hernán Ceballos
    CIAT Colombia thật ấn tượng
    Martin Fregenexa mà gần

    Châu Mỹ chuyện không quên
    CIP khoai tây khoai lang
    Nam Mỹ trong mắt ai
    Nhiều bạn tôi ở đấy

    Machu Picchu di sản thế giới
    Mark Zuckerberg và Facebook
    Lời vàng Albert Einstein
    Bill Gates học để làm

    Thomas Edison một huyền thoại
    Toni Morrison nhà văn Mỹ
    Walt Disney bạn trẻ thơ
    Lúa Việt tới Châu Mỹ.

    CIAT COLOMBIA THẬT ẤN TƯỢNG

    Ở Colombia, tôi ấn tượng nhất ba nơi là 1) CIAT tại Cali, 2) sông Magdalena và đền thần Mặt trời, với dãy núi Andes và nhiều đồn điền cà phê; 3) thủ đô Bogota tại Zona Rosa nổi tiếng với các nhà hàng và cửa hiệu, có Cartagena một khu phố cổ trên bờ biển Caribê gợi nhớ biển Nha Trang của Việt Nam. Tôi thích nhất CIAT tại Cali là vườn sắn lai. Tôi nhiều ngày luôn cặm cụi ở đấy. Tôi đã kể lại trong bài “Nhớ châu Phi” lời nhắn của giáo sư tiến sĩ Martin Fregene: “Kim thân. Mình hiểu rằng CMD, bệnh virus khảm lá sắn, đã vô tình được du nhập vào Việt Nam. Mình khuyến khích bạn nhập các giống sắn nuôi cấy mô MNG-19, MNG-2 và 8-9 C-series từ CIAT để đánh giá chúng về hàm lượng tinh bột và năng suất bột. Nếu hàm lượng tinh bột và năng suất tinh bột của những giống sắn kháng bệnh CMD này đủ cao, hãy nhân lên và phân phối giống sắn mới này đến các khu vực bị ảnh hưởng. Hãy cho mình biết nếu mình có thể trợ giúp thêm”. (Dear Kim, I understand that CMD has been accidentally introduced into Vietnam. I encourage you to import tissue culture plants of MNG-19, MNG-2, and the 8-9 C-series from CIAT and evaluate them for starch content. If they are high enough, multiply and distribute to affected areas. Let me know if I can be if more help). Tôi đã trả lời: “Cám ơn bạn. Tôi đã mang nguồn gen giống sắn kháng CMD về Việt Nam rồi, nay mình đang cùng các cộng sự của mình lai tạo giống kháng này với những giống sắn ưu tú năng suất tinh bột cao của Việt Nam”.

    MACHU PICCHU DI SẢN THẾ GIỚI

    Bạn hỏi tôi ấn tượng nhất điều gì ở Nam Mỹ?. Tôi ấn tượng nhất là Machu Picchu di sản thế giới UNESCO ở Peru, nơi được Tổ chức New7Wonders chọn là một trong bảy kỳ quan thế giới mới. Đó là di sản nền văn minh Inca, người da đỏ Inca  và thần Mặt trời. Đấy thực sự là một kho báu kỳ bí vĩ đại tâm linh khoa học kỳ bí chưa thể giải thích được đầy đủ. Đền thờ thần Mặt trời tựa lưng vào cột chống trời “Cổ Sơn”, theo tiếng quechua của người Inca; thỉnh thoảng được gọi là “Thành phố đã mất của người Inca” một khu tàn tích Inca thời tiền Columbo trong tình trạng bảo tồn tốt ở độ cao 2.430 m trên một quả núi có chóp nhọn tại thung lũng Urubamba ở Peru, khoảng 70 km phía tây bắc Cusco. Tại thủ đô Lima có một đường bay nội địa dẫn tới Cusco. CIP gần trung tâm Lima và sân bay nên bạn rỗi hai ngày là có thể đi thăm được. Tất cả các chuyến bay tới Machu Picchu đều xuất phát từ Cusco.

    Châu Mỹ chuyện không quên lắng đọng trong tôi nhiều ký ức sâu sắc về  đất nước, con người, bạn hữu, nền văn hóa.ở đó. Tôi ghi chép được ít bài viết sẽ sắp xếp và xâu chuỗi lại, Biên khảo này có mục đích nhằm cung cấp thông tin,  bài học kinh nghiệm tình yêu cuộc sống cho bạn đọc, đặc biệt là các bạn trẻ nghèo hiếu học có thể chọn được một số tri thức bổ ích và bài học quý cho riêng mình.

    MỘT NGÀY VỚI HERNAN CEBALLOS
    Hoàng Kim

    Những ảnh này ghi lại
    Châu Mỹ chuyện không quên tình bạn của chúng ta, Một ngày với Hernán Ceballos, tại vườn nhà bạn ở Colombia, thiên nhiên trong lành, thung dung cùng với cỏ hoa, ngày chủ nhật yêu thích năm 2003..

    Một ngày với Hernán Ceballos; Châu Mỹ chuyện không quên; Đi để hiểu quê hương; (xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/mot-ngay-voi-hernan-ceballos/


    SÓC TRĂNG LƯƠNG ĐỊNH CỦA
    Hoàng Kim

    Mai Hạc vầng trăng soi
    Sóc Trăng Lương Định Của
    Chuyện thầy Tôn Thất Trình
    Thầy Quyền thâm canh lúa

    Thầy lúa Bùi Bá Bổng
    Lúa siêu xanh Hòa Bình
    Lúa siêu xanh Việt Nam
    Tính sáng thấm
    Hoàng Kim.

    Cánh cò bay trong mơ
    Con đường lúa gạo Việt

    Dạy và học 10 tháng 9


    DẠY VÀ HỌC 10 THÁNG 9
    Hoàng Kim
    CNM365 Tình yêu cuộc sốngNguyễn Trãi kiệt tác thơ văn; Nguyễn Trọng Tạo đồng dao; Hoàng Trung Trực đời lính; Minh triết cho mỗi ngày; Châu Mỹ chuyện không quên; Trung Quốc một suy ngẫm; Bình sinh Tập Cận Bình; Trung Quốc thời ông Tập; Nhớ lớp học trên đồng; Đền Ngọc Sơn Hồ Gươm; Trạng Trình; Ngày 10 tháng 9 năm 1385, ngày sinh Lê Lợi, vua khai sáng nhà Hậu Lê, lãnh tụ khởi nghĩa chống quân Minh. Ngày 10 tháng 9 năm 1960, Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương của Đảng Lao động Việt Nam, ông giữ chức vụ này đến năm 1986. Ngày 10 tháng 9 năm 1823, Simón Bolívar nhà cách mạng nổi tiếng người Venezuela, trở thành tổng thốngPeru. Bài chọn lọc ngày 10 tháng 9 Nguyễn Trãi kiệt tác thơ văn; Nguyễn Trọng Tạo đồng dao; Hoàng Trung Trực đời lính; Minh triết cho mỗi ngày; Châu Mỹ chuyện không quên; Trung Quốc một suy ngẫm; Bình sinh Tập Cận Bình; Trung Quốc thời ông Tập; Nhớ lớp học trên đồng; Đền Ngọc Sơn Hồ Gươm; Trạng Trình; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-10-thang-9/

    NGUYỄN TRÃI KIỆT TÁC THƠ VĂN
    Hoàng Kim

    Nguyễn Trãi đã có nhiều tôn vinh, nhưng như lời giáo sư Phan Huy Lê đã nhận xét trong bài “Nguyễn Trãi, 560 năm sau vụ án Lệ Chi Viên“: ”Cho đến nay, sử học còn mang một món nợ đối với lịch sử, đối với Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là chưa khám phá và đưa ra ánh sáng những con người cùng với những âm mưu và hành động lợi dụng việc từ trần đột ngột của vua Lê Thái Tông ở Lệ Chi Viên để vu oan giá họa dựng nên vụ án kết liễu thảm khốc cuộc đời của một anh hùng vĩ đại, một nữ sĩ tài hoa, liên lụy đến gia đình ba họ. Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hi vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng. Với thời gian và những công trình nghiên cứu của nhiều thế hệ các nhà sử học, nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà văn hóa…, lịch sử càng ngày càng làm sáng rõ và nâng cao nhận thức về con người và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, về những công lao, cống hiến, những giá trị đích thực của ông trong lịch sử cứu nước và dựng nước, lịch sử văn hóa của dân tộc”. Dẫu vậy, trong tất cả những tư liệu lịch sử để lại thì tư liệu sáng giá nhất, rõ rệt nhất, sâu sắc nhất để minh oan cho Người lại chính là Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi, “Họa phúc có nguồn đâu bổng chốc, Anh hùng để hận mãi nghìn năm” “Số khó lọt vành âu bởi mệnh.Văn chưa tàn lụi cũng do trời “. Bài thơ thần “Yên Tử “của Nguyễn Trãi “Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong. Trời mới ban mai đã rạng hồng. Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả. Nói cười lồng lộng giữa không trung…” (thơ Nguyễn Trãi trên Yên Tử, hình ảnh và cẩn dịch Hoàng Kim). Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi lưu bài “Yên Tử” “Ngôn chí,” “Quan hải”, “Oan than” của Người kèm cảm nhận “Trời ban tối biết về đâu?” của Vũ Bình Lục; xem tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-trai-kiet-tac-tho-van/

    Nguyễn Trãi là bậc anh hùng dân tộc, nhà chính trị kiệt xuất và danh nhân văn hóa lỗi lạc của dân tộc Việt, Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc nay là huyện Thường Tín, Hà Nội, sinh năm 1380 , mất năm 1442,. cha là Nguyễn Phi Khanh, nguyên quán làng Chi Ngại , huyện Phương So8n (Chí Linh, Hải Dương) mẹ là Trần Thị Thái, con gái của Trần Nguyên Đán. Nguyễn Trãi thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) năm 1400, cha con đều từng làm quan dưới triều Hồ. Sau khi Việt Nam bị rơi vào sự cai trị của nhà Minh, Nguyễn Trãi tham gia vào cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Ông trở thành mưu sĩ bày tính mưu kế về mọi mặt chính trị, quân sự, ngoại giao của nghĩa quân Lam Sơn. Ông là khai quốc công thần của nhà Hậu Lê, được ban quốc tính, năm 1428 viết Bình Ngô đại cáo thiên cổ hùng văn, năm 1433 ông đã viết văn bia Vĩnh Lăng nổi tiếng khi Lê Lợi mất. Tuy nhiên, năm 1442, toàn thể gia đình Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc trong vụ án Lệ Chi Viên. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông. Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Lòng Ức Trai sáng như sao Khuê).

    Dưới đây là năm bài thơ trong Những kiệt tác thơ văn Nguyễn Trãi và cảm nhận “Trời ban tối biết về đâu?” của Vũ Bình Lục

    YÊN TỬ

    Nguyên văn chữ Hán

    題 安子山花煙寺

    安山山上最高峰,
    纔五更初日正紅。
    宇宙眼窮滄海外,
    笑談人在碧雲中。
    擁門玉槊森千畝,
    掛石珠流落半空。
    仁廟當年遺跡在,
    白毫光裏睹重瞳。

    Ðề Yên Tử sơn Hoa Yên tự

    Yên Sơn sơn thượng tối cao phong
    Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
    Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
    Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
    Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu
    Quải thạch châu lưu lạc bán không
    Nhân miếu đương niên di tích tại
    Bạch hào quang lý đổ trùng đồng.

    YÊN TỬ

    Đề chùa Hoa Yên, núi Yên Tử
    Nguyễn Trãi

    Non thiêng Yên Tử đỉnh kỳ phong
    Trời mới ban mai đã rạng hồng
    Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả
    Nói cười lồng lộng giữa không trung
    Giáo trúc quanh chùa giăng nghìn mẫu
    Cỏ cây chen đá rũ tầng không
    Nhân Tông bảo tháp còn lưu dấu
    Mắt sáng hào quang tỏa ánh đồng

    (Bản dịch của Hoàng Kim)

    Trên dải Yên Sơn đỉnh tuyệt vời
    Đầu canh năm đã sáng trưng rồi
    Mắt ngoài biển cả ôm trời đất
    Người giữa mây xanh vẳng nói cười
    Giáo ngọc quanh nhà giăng vạn khoảnh
    D4i châu treo đá rũ lưng trời
    Nhân Tông còn miếu thời nao đó
    Thấy rõ đôi ngươi giữa ánh ngời (1)

    (1) Tương truyền vua Trần Nhân Tông mắt có hai con ngươi
    (Bản dịch của Khương Hữu Dụng)

    Trên núi Yên Tử chòm cao nhất
    Vừa mới canh năm đã sáng trời
    Tầm mắt bao trùm nơi biển tận
    Từng mây nghe thoảng tiếng ai cười
    Rừng vươn giáo dựng tre nghìn mẫu
    Đá rũ rèm buông nhũ nửa vời
    Miếu cổ Nhân Tông hằng để dấu
    Mắt còn trắng tỏa ánh đôi ngươi.

    (Bản dịch của Lê Cao Phan)

    Trên non Yên Tử chòm cao nhất,
    Trời mới canh năm đã sáng tinh.
    Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả,
    Nói cười người ở giữa mây xanh.
    Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa,
    Bao dãi tua châu đá rủ mành.
    Dấu cũ Nhân tôn còn vẫn đấy,
    Trùng đồng thấy giữa áng quang minh.

    (Bản dịch của nhóm Đào Duy Anh)
    Nguồn: Nguyễn Trãi toàn tập, Đào Duy Anh,
    NXB Khoa học xã hội, 1976

    Trên non Yên Tử ngọn cao nhất
    Chỉ mới canh năm sáng đỏ trời!
    Ngoài vũ trụ xanh màu biển thẳm
    Giữa mây biếc rộn tiếng người cười.
    Cửa cài ngọc dựng, ken nghìn mẫu
    Đá rũ châu rơi, rớt nửa vời!
    Miếu cổ Nhân Tông di tích đó
    Đôi mày sáng trắng rực hai ngươi!

    (Bản dịch của Lâm Trung Phú)

    NGÔN CHÍ

    Am trúc, hiên mai ngày tháng qua
    Thị phi nào đến chốn yên hà
    Cơm ăn dù có dưa muối
    Áo mặc nài chi gấm là
    Nước dưỡng cho thanh, trì thưởng nguyệt
    Đất cày ngõ ải luống ương hoa
    Trong khi hứng động bề đêm tuyết
    Ngâm được câu thần dững dưng ca

    Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
    Thế giới đông nên ngọc một bầu
    Tuyết sóc treo cây điểm phấn
    Cõi đông giãi nguyệt in câu.
    Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
    Nhạn triện hư không gió thâu
    Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
    Trời ban tối biết về đâu?

    QUAN HẢI

    Nguyên văn chữ Hán

    樁木重重海浪前
    沉江鐵鎖亦徒然
    覆舟始信民猶水
    恃險難憑命在天
    禍福有媒非一日
    英雄遺恨幾千年
    乾坤今古無窮意
    卻在滄浪遠樹烟

    Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
    Trầm giang thiết tỏa diệt đồ nhiên
    Phúc chu thủy tín dân do thủy
    Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên.
    Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
    Anh hùng [3] di hận kỷ thiên niên.
    Càn khôn kim cổ vô cùng ý,
    Khước tại thương lang viễn thụ yên.

    Dịch nghĩa : NGẮM BIỂN

    Cọc gỗ lớp lớp trồng trước sóng biển
    Xích sắt ngầm dưới sông cũng vậy thôi.
    Thuyền bị lật mới tin rằng dân là như nước
    Cậy đất hiểm cũng khó dựa, mệnh là ở trời.
    Họa phúc có manh mối không phải một ngày
    Anh hùng để mối hận mấy nghìn năm sau.
    Lẽ của trời đất và xưa nay, thực là vô cùng
    Vẫn là ở chỗ sắc nước bát ngát, cây khói xa vời

    CỬA BIỂN

    Lớp lớp cọc ngăn giữa sóng nhồi
    Thêm ngầm dây sắt – uổng công thôi !
    Lật thuyền, thấm thía dân như nước
    Cậy hiểm, mong manh : mệnh ở trời
    Hoạ phúc có nguồn, đâu bỗng chốc?
    Anh hùng để hận, dễ gì nguôi?
    Xưa nay trời đất vô cùng ý
    Nơi sóng xanh cây khói tuyệt vời

    (Bản dịch của HƯỞNG TRIỀU)

    OAN THÁN

    Nguyên văn chữ Hán

    浮俗升沉五十年
    故山泉石負情緣
    虛名實禍殊堪笑
    眾謗孤忠絕可憐
    數有難逃知有命
    大如未喪也關天
    獄中牘背空遭辱
    金闕何由達寸箋

    Phù tục thăng trầm ngũ thập niên ;
    Cố sơn tuyền thạch phụ tình duyên.
    Hư danh thực họa thù kham tiếu ;
    Chúng báng cô trung tuyệt khả liên.
    Số hữu nan đào tri thị mệnh ;
    Văn như vị táng dã quan thiên.
    Ngục trung độc bối [1] không tao nhục ;
    Kim khuyết hà do đạt thốn tiên ?

    Dịch nghĩa THAN NỔI OAN

    Nổi chìm trong phù tục đã năm chục năm,
    Đành phụ tình duyên với khe và đá của núi cũ.
    Danh hư mà họa thực, rất đáng buồn cười ;
    Lắm kẻ ghét một mình trung, rất đáng thương hại.
    Khó trốn được số mình, biết là vì mệnh ;
    Tư văn như chưa bỏ, cũng bởi ở trời.
    Trong ngục viết ở lưng tờ, khi không bị nhục ;
    Cửa khuyết vàng làm thế nào mà đạt được tờ giấy lên ?

    Dịch Thơ: THAN NỔI OAN:

    Biển tục thăng trầm nữa cuộc đời
    Non xưa suối đá phụ duyên rồi
    Trung côi , ghét lắm, bao đau xót
    Họa thực, danh hư , khéo tức cười
    Số khó lọt vành âu bởi mệnh
    Văn chưa tàn lụi cũng do trời
    Trong lao độc bối cam mang nhục
    Cửa khuyết làm sao tỏ khúc nhôi?

    Bản dịch của Thạch Cam

    Năm mươi năm thế tục bình bồng
    Khe núi lòng cam bội ước chung
    Cười nạn hư danh, trò thực họa
    Thương phường báng bổ kẻ cô trung
    Mạng đà định số, làm sao thoát
    Trời chửa mất văn, vẫn được dùng
    Lao ngục đau nhìn lưng mảnh giấy
    Oan tình khó đạt tới hoàng cung.

    Bản dịch của Lê Cao Phan

    TRỜI BAN TỐI, BIẾT VỀ ĐÂU?

    Vũ Bình Lục

    (Về bài thơ NGÔN CHÍ – SỐ13 của Nguyễn Trãi)

    Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
    Thế giới đông nên ngọc một bầu
    Tuyết sóc treo cây điểm phấn
    Cõi đông giãi nguyệt in câu.
    Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
    Nhạn triện hư không gió thâu
    Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
    Trời ban tối biết về đâu?

    Nguyễn Trãi sống cách chúng ta khoảng sáu trăm năm. Riêng nói về thơ Nôm, dẫu thất lạc sau thảm hoạ tru di năm 1442, cũng còn được hơn 250 bài. Có thể nói, Nguyễn Trãi đã dựng lên một tượng đài sừng sững bằng thơ, mà trước hết là thơ viết bằng ngôn ngữ dân tộc-Thơ Nôm. Chùm thơ “Ngôn chí” có rất nhiều bài hay, đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ mới thấy cái hay, bởi chữ Nôm cách nay sáu trăm năm, rất nhiều từ nay không còn dùng nữa, hoặc rất ít dùng. Phải tra cứu một số từ, một số điển tích, mới dần sáng tỏ một hồn thơ lớn, lớn nhất, trong lịch sử thơ ca Việt Nam!

    Đây là bài Ngôn chí số 13, do những người biên soạn sách Tuyển tập thơ văn Nguyễn Trãi sắp xếp.

    Hai câu đầu: Tà dương bóng ngả thuở giang lâu
    Thế giới đông nên ngọc một bầu

    Hai câu thơ đơn thuần chỉ là tả cảnh, đặc tả một buổi chiều, mà gam màu chủ đạo là màu vàng thẫm rất quen mà huyễn hoặc. Bóng chiều tà đã ngả, đang quấn lấy một ngôi lầu ở bên sông, hay đang trùm lên ngôi lầu bên sông một màu vàng thẫm. Nhưng có điều cần lưu ý, đây là ngôi lầu giành cho đàn bà con gái thuộc tầng lớp quý tộc giàu sang, trong một không gian rộng lớn và yên tĩnh, rất yên tĩnh. Câu tiếp theo mới thật diễm lệ: Thế giới đông nên ngọc một bầu. Vậy thế giới đông là gì? Theo điển dẫn, đông chính là khí tốt, khí thiêng của thế giới, của vũ trụ đông đặc lại mà thành phong cảnh đẹp như ngọc. Thế đấy! Còn như Bầu, cũng theo điển sách Đạo gia, kể rằng Trương Thân thường treo một quả bầu rất lớn, hoá làm trời đất, ở trong cũng có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đó mà ngủ, gọi là trời bầu, hay bầu trời cũng vậy…Quả là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ, rất xưa, tinh khiết và tráng lệ, dường như đã đạt đến mức cổ điển!

    Đấy là hai câu thất ngôn. Hai câu tiếp theo, lại là lục ngôn, vẫn tiếp tục tả cảnh:
    Tuyết sóc treo cây điểm phấn
    Cõi đông giải nguyệt in câu.

    Tuyết sóc, nghĩa là tuyết ở phương bắc (sóc) chả biết gieo xuống từ bao giờ, mà còn giăng mắc trên những cành cây như những bông hoa trắng muốt, như điểm phấn cho cây, trang trí làm đẹp cho cây. Có người bảo nước ta làm gì có tuyết, chỉ là ước lệ cho đẹp văn chương mà thôi. Nhưng họ nhầm đấy! Các tỉnh phía Bắc nước ta như Lào Cai, Hà Giang và chắc là còn một số nơi khác nữa ngày nay vẫn có tuyết, nhiều nữa kia. Vậy thì sao thơ văn ngày xưa các cụ ta nói đến tuyết, con cháu lại hàm hồ bác bỏ? Cách đây mấy trăm năm, sao lại không thể không có tuyết mà các cụ phải đi mượn của người? Phía bắc là tuyết, là hoa tuyết điểm phấn cho cây, thì Cõi đông giải nguyệt in câu. Phương đông in một giải lụa trăng vàng óng. Thế là cả một không gian rực rỡ sắc màu. Màu trắng của tuyết hoa tương ánh cùng màu vàng của ánh nguyệt in bóng nước, của chiều tà vàng thẫm, tạo một bức tranh vừa rộng vừa sâu, gợi một khoảnh khắc giao thoa hỗn mang rất nhiều tâm trạng.

    Hai câu tiếp theo, vẫn cấu trúc bằng lục ngôn:
    Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
    Nhạn triện hư không gió thâu

    Bây giờ là sương khói trong chiều muộn. Cúi xuống nhìn dòng nước, thấy khói chiều in xuống mặt nước trong veo phẳng lặng. Quyên, từ cổ là mặt nước trong, do đó quyên phẳng nghĩa là mặt nước trong phẳng lặng, như thể nhìn rõ khói chiều đang chìm dưới đáy nước. Rõ là nước lộn trời, vàng gieo đáy nước, “Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng”. Có lẽ Nguyễn Du mấy trăm năm sau đã tiếp thu tinh thần của câu thơ Nguyễn Trãi mà sáng tạo lại trong Truyện Kiều câu thơ trên, khi mà tiếng Việt đã đạt đến độ nhuần nhuyễn và trang nhã chăng? Còn trên trời thì đàn chim nhạn đang xếp hình chữ triện mà mỏi mệt bay về rừng tìm chốn ngủ. Và gió nhẹ, thổi rỗng cả trời…

    Cảnh chỉ là điểm xuyết, mà gợi nên bức tranh đủ sắc màu, rất sống động, và tiếp đó, nó như thể đang chuyển động dần về phía đêm tối, về phía lụi tàn.

    Hai câu cuối, tác giả viết:
    Thuyền mọn còn chèo chẳng khứng đỗ
    Trời ban tối ước về đâu?

    Con thuyền nhỏ nhoi (Thuyền mọn) của Tiên sinh, hay con thuyền của một vị khách nào đó, vẫn còn đang mải miết chèo trên sông, như chẳng muốn dừng lại. Trong nhập nhoạng bóng tà, con thuyền mọn như càng nhỏ bé hơn, chưa muốn, hay chưa tìm được nơi đỗ lại mà nghỉ ngơi, hay bởi vì Trời ban tối, ước về đâu, biết về đâu? Câu bảy thất ngôn, dàn trải thêm, biểu hiện sự buông thả, lửng lơ, phân vân… Câu tám bỗng đột ngột thu lại lục ngôn, như một sự dồn nén tâm sự.

    ‘NHẬT NGUYỆT HỐI RỒI LẠI MINH’
    Trăng che mặt trời đêm rồi lại sáng
    Thơ Nguyễn Trãi ngàn năm linh cảm
    Ngày 9 tháng 3 bao chuyện lạ lùng
    Hoàng Kim

    Ngày 9 tháng 3 năm 141 trước công nguyên
    Thời Hán Vũ Đế Lưu Triệt lên ngôi.
    Nước Nam Việt bị nhập vào nhà Hán
    Ngàn năm (sau) vết nhục nhã (mới) sạch làu.

    “Như nước Đại Việt ta từ trước
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
    Núi sông bờ cõi đã chia
    Phong tục Bắc Nam cũng khác

    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần
    bao đời xây nền độc lập
    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên
    mỗi bên hùng cứ một phương
    Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
    Song hào kiệt thời nào cũng có”

    “Càn khôn bĩ rồi lại thái
    Nhật nguyệt hối rồi lại minh
    Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu
    Muôn thuở nền thái bình vững chắc

    Âu cũng nhờ trời đất tổ tông
    linh thiêng đã lặng thầm phù trợ“
    Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi
    Văn bia Vĩnh Lăng di sản rõ ràng.

    (Sách sử nay Đinh Lê Lý Trần
    thay thế cho Triệu Đinh Lý Trần
    Trăng che trời, sửa thơ Nguyễn Trãi ???
    Đối sao được Hàn Đường Tống Nguyên)

    Nước Nam Việt Triệu Đà tích xưa còn đó
    Thời Hán Nam Việt bị nhập vào nhà Hán
    Ngàn năm (sau) vết nhục nhã (mới) sạch làu.
    Chính sử vẫn còn, sự thật ở đâu???

    Soi gương kim cổ
    Tích truyện xưa
    Ghi lại đôi lời
    Trăng giao với trời
    Nhật thực hôm nay.

    NGUYỄN TRỌNG TẠO ĐỒNG DAO
    Hoàng Kim

    Cảm ơn anh Duy-Man Vu đã chuyển tải tác phẩm ‘Hội ngộ Văn chương’ ưng ý và lắng đọng nhất, dường như là ‘bài giảng cuối cùng’, của nhà thơ nhạc sĩ tài hoa Nguyễn Trọng Tạo, tác giả ‘khúc hát sông quê’ sang tiếng Anh với văn phong hay chuẩn mực. Hôm nay là ngày đặc biệt Nguyễn Trọng Tạo bài giảng cuối cùng tham luận đọc tại Liên hoan văn học ASEAN lần thứ 2, Indonesia: “Chủ nghĩa tiêu dùng với tác phẩm văn học” là tuyên ngôn văn chương sau cùng và hay nhất của anh, mà những người lính chiến trường và các bạn hữu, người thân của anh ở mũi nhọn của trận tuyến dân trí, không thể không đọc lại và suy ngẫm

    “… Vấn đề quan trọng là nhà văn có tin những điều mình viết ra là sự thật, là nhân văn, là hấp dẫn người đọc và dẫn dắt tâm hồn, tư tưởng của họ hay không. Đó là điều không dễ dàng. Tôi cũng đã nhiều lần nghiền ngẫm về điều đó. Tin hay không tin? Và tôi đã viết nó thành bài thơ “Tin thì tin không tin thì thôi”. Tôi xin đọc bài thơ này thay cho lời kết thúc bài phát biểu của mình:

    TIN THÌ TIN KHÔNG TIN THÌ THÔI
    Nguyễn Trọng Tạo

    bốn lăm bậc thời gian dốc ngược
    tôi đã vượt qua
    em cách một sợi tơ
    tôi đã không qua được
    tin thì tin không tin thì thôi
    tôi đã tới hang động yến sào tôi đã thèm ăn yến
    vậy mà chưa được nếm bao giờ
    hàng quốc cấm
    nghe nói từ xưa làm vua sướng lắm
    mà đôi khi tôi cũng sợ làm vua
    tin thì tin không tin thì thôi
    có anh hề đã nói với tôi
    – đời thằng hề buồn lắm anh ơi
    và tôi đã khóc
    tin thì tin không tin thì thôi
    nhưng tôi người cầm bút, than ôi
    không thể không tin gì mà viết.
    tin thì tin không tin thì thôi!

    1991

    “… it is important whether the writer believes what he wrote are truth, are human, are compelling to the reader and guide their soul and their thought or not. This is not easy. I also have mulled several times about it. Believe it or not? And I wrote the poem “Believe or don’t believe it’s alright.” I would like to read this poem as my closing words:

    BELIEVE OR DON’T BELIEVE IT´S ALRIGHT

    forty-five steps of time upside down
    I have overcome
    you are just a fine line of silk away
    I have not overcome
    believe or don’t believe it’s alright
    I have come to the bird’s cave, I have longed to eat the bird’s nest
    but I have not tasted
    the national forbidden food
    I have heard from old time it’s great to be king
    but sometimes I am afraid to be king
    believe or don’t believe it’s alright
    there is a clown who told me
    – a clown’s life is so sad, my brother
    and I have cried
    believe or don’t believe it’s alright
    but me, a writer, oh dear
    I can’t write without belief.
    Believe or don’t believe it’s alright!
    1991

    Poet Nguyen Trong Tao
    (Vietnam)

    see more đọc toàn văn tại NGUYỄN TRONG TẠO ĐỒNG DAO https://hoangkimlong.wordpress.com/category/nguyen-trong-tao-dong-dao/

    *

    Nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo sinh ngày 25 tháng 8 năm 1947 tại làng Tràng Khê, Diễn Hoa, Diễn Châu, Nghệ An. Cư trú tại P308, tòa nhà HH2A Linh Đàm Hà Nội đã từ trần ngày 7 tháng 1 năm 2019, an táng tại làng quê Nghệ An. Nguyễn Trọng Tạo tham luận đọc tại Liên hoan văn học ASEAN lần thứ 2, Indonesia: Chủ nghĩa tiêu dùng với tác phẩm văn học” là tuyên ngôn văn chương sau cùng và hay nhất của anh mà những người lính chiến trường và các bạn hữu người thân của anh ở mũi nhọn của trận tuyến dân trí, không thể không đọc lại và suy ngẫm. ‘
    Nguyễn Trọng Tạo nhịp đồng dao’ ấn tượng nhất trong tôi các tác phẩm “Khúc hát sông quê”, “Biển” “Tin thì tin không tin thì thôi ” “Ngày không em” “Đi bộ cùng quá khứ

    BIỂN
    Nguyễn Trọng Tạo


    Anh trót để ngôi sao bay khỏi cát
    Biếc xanh em mãi chớp sáng bầu trời
    Điều có thể đã hóa thành không thể
    Biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi.

    Bài “BIỂN” của anh Nguyễn Trọng Tạo hình như tôi chưa thấy in chính thức tại đâu, cũng như TỪ TUYỆT KHÔNG ĐỀ của anh Phan Chí Thắng dưới đây hình như tôi cũng chưa hề thấy ở sách Phan Chí Thắng nào cả. Hình như là các tác giả đã quên lãng nhưng sự ghi chép ‘
    Thơ hay về biển‘ và ‘Bài thơ Viên đá Thời gian‘ là nhịp đồng dao có thật.

    phanchithang

    TỨ TUYỆT KHÔNG ĐỀ
    Phan Chí Thắng

    Không có rượu sao mà say đến thế
    Giải Ngân Hà mờ tỏ  bóng thời gian
    Ta đã được một lần say lặng lẽ
    Giữa cuộc đời tỉnh táo đến khôn ngoan.

    Anh Tạo nói đúng: “Có thể các bạn đã biết, Việt Nam chúng tôi có 64 nhà xuất bản sách, mỗi năm xuất bản gần 20.000 đầu sách với hàng trăm triệu bản sách. Nhưng sách văn học chỉ chiếm 10%, trong đó sách dịch của nước ngoài chiếm quá nửa. Và phần lớn độc giả bị rơi vào cái bẫy của chủ nghĩa tiêu dùng, mà chúng tôi gọi là “văn học thị trường” hay “văn học giải trí”, loại sách này ở Trung Quốc còn gọi mỉa mai là “văn học giấy vệ sinh”. Tôi không nghĩ đó là câu chuyện riêng của nước tôi, mà đó cũng là câu chuyện của những quốc gia khác. Đó là một vấn nạn trong văn hóa đọc, làm đau đầu các nhà văn luôn coi “Văn chương là ngôi đền thiêng”… “Văn học thị trường” hay “văn học giải trí” cũng tạo ra áp lực lớn cho nhà văn, anh phải chạy theo nó, hay anh phải thoát khỏi nó để sáng tạo ra những giá trị văn học thực sự mang tư tưởng thời đại và có sức sống lâu dài. Thực tế ở Việt Nam cũng đã có một số nhà xuất bản và nhà văn chạy theo thị hiếu tiêu dùng để kiếm tiền, một số đông tác giả khác không thành danh thì tự bỏ tiền ra in tác phẩm để kiếm tìm cảm giác “tự sướng”, và họ cũng ném vào thị trường văn học khá nhiều rác, khiến độc giả càng trở nên loạn chuẩn … Nhà văn chân chính, phải hóa giải những nỗi sợ đó để tự vượt lên chính mình trong sáng tạo, nghĩa là nhà văn phải trung thành với tư tưởng nghệ thuật của mình, và văn chương của anh ngày càng phải hấp dẫn hơn, với hy vọng cải tạo, và giải thoát thị hiếu của tầng lớp độc giả đang đóng đinh vào “chủ nghĩa tiêu dùng”. Biết vậy, nhưng các bạn biết không, tôi vẫn rất sợ những độc giả như thế. Tôi yêu độc giả – người sáng tạo thứ 2

    Quyen Ngo với ‘Đêm nghe khúc hát sông quê‘ và Vũ Thanh Hoa với “Giao hưởng biển‘ là hai bài thơ hay, có trường liên tưởng thật rộng. Câu thơ: ‘biết sông nào đọng phù sa… sông nào’ hay nhất trong số ấy .Cảm ơn Quyen Ngo.

    ĐÊM NGHE KHÚC HÁT SÔNG QUÊ
    Gió Phương Nam


    Đêm nghe khúc hát Sông Quê
    Tự dưng nước mắt lăn về tuổi thơ
    Khát khao nào có bến bờ
    Sóng xô năm tháng dại khờ sóng ơi

    Đêm buồn, sông chảy ngang môi
    Giấc mơ không vớt nổi thời đắm xa
    Tuổi thơ Người, tuổi thơ Ta
    Biết sông nào đọng phù sa…sông nào!

    Trịnh Công Sơn, Bữu Ý, Nguyễn Trọng Tạo và Hoàng Phủ Ngọc Tường (ảnh internet) trong khảo luận ‘Trịnh Công Sơn tình yêu cuộc sống‘.

    Nhạc sĩ nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết vậy, bạn bè anh vậy, nên anh đi xa rồi nhưng anh vẫn sống trong lòng tôi. Hôm nay nữa, một hình ảnh và mẫu thoại ngắn của tôi THÍCH CÁI KHOE CỦA NGƯỜI TỬ TẾ từ ngày 9 Tháng 9, 2017 được các bạn nhắc lại mà bùi ngùi nhớ: .”Giản dị thế mà sống, cần đếch gì chụp giật, phỏng ạ, Niềm vui cứ nho nhỏ thế thôi…” Văn Công Hùng viết vậy còn Phan Chi thì viết “lão Hâm ghét ông Nguyễn Trọng Tạo thêm 5 phút nữa. (Không kiếm được vé đi nghe đêm nhạc Nguyễn Trọng Tạo nên post bài này lên cho… bõ tức). Lão nông Trần Duy Quý thì khoe “Dân phấn khởi quá, vì so với giống Bắc Thơm 7 năng suất Sơn Lâm 1 vượt ít nhất 80 kg/ sào mà gạo hai giống ngon như nhau. Giá bán gạo đều 16-18 k trên kg nên hiệu quả rõ rệt. Dân tuyên bố sẽ trồng Sơn Lâm 1 thay cho Bắc Thơm 7 cả vụ xuân lẫn vụ mùa”. Cô Nguyễn Thị Trúc Mai thì khoe: “Bốn tháng sau trồng, không cần quảng cáo”. Anh Trần Mạnh Báo thì viết: “Sau nửa tháng đi công tác, hôm nay lại về với cánh đồng Trung tâm nghiên cứu thân yêu! Cảm ơn Mr Diệp (người e lệ đứng bên bờ ruộng) về ý tưởng trồng hoa trên bờ ruộng!”. Tôi thích cái khoe này. “Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại”. Cái khoe của họ là tiền tươi thóc thật của người tử tế. (Hoàng Kim)

    Xem tiếp >>

Hoàng Kim, Khoa Nông Học, Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM, ĐTDĐ:0903 613024,Email:hoangkimvietnam1953@gmail.com, hoangkim@hcmuaf.edu.vn

Thiết kế: Quản trị mạng- ĐHNL 2007