Trang chủ NLU| KhoaNôngHọc| Mụclục Hoàng KimLong| Tình yêu cuộc sống | CNM365| Khát khao xanh | Dạy và học | Cây Lương thực | FoodCrops| HK1| HK2| HK3| HK4| HKWiki| Violet| FAOSTAT| ThốngkêVN | ThờitiếtVN|
Thống kê
Số lần xem
Đang xem 628
Toàn hệ thống 1134
Trong vòng 1 giờ qua
Trang liên kết

 

Tỉnh thức
giữa đêm thiêng Yên Tử
Để thấm hiểu đức Nhân Tông
Ta thành tâm đi bộ
Lên tận đỉnh chùa Đồng
Tâm sáng Ức Trai
trong tựa ngọc


TÌNH YÊU CUỘC SỐNG

THUNG DUNG
Nguyễn Bỉnh Khiêm, ...


DẠY VÀ HỌC
Để chấn hưng giáo dục Việt Nam cấp thiết phải có đội ngũ những người thầy giáo ưu tú có tâm đức thiết tha với nghề, có trình độ chuyên môn cao và có kỹ năng giảng dạy tốt. Đây là trang thông tin chuyên đề dạy và học để trao đổi và bàn luận


Khoa Nông Học  
Những nhà khoa học xanh,
http://foodcrops.vn


Norman Borlaug
Lời Thầy dặn

Việc chính đời người chỉ ít thôi
Chuyên tâm đừng bận chuyện trời ơi
Phúc hậu suốt đời làm việc thiện
Di sản muôn năm mãi sáng ngời.


Thông tin Cây Lương thực
 Lúa, Ngô, Sắn, Khoai lang
Nông trại và Hệ thống Canh tác
http://foodcrops.vn
FOOD CROPS
CÂY LƯƠNG THỰC
  



Tình yêu cuộc sống
Thông tin chuyên đề chọn lọc

Science Daily

KHÁT KHAO XANH
HOÀNG KIM
CNM365

Luôn làm mới kiến thức của bạn !



Bút tích NB gửi HK và
Những tư liệu quý về 
GS.TS. Norman Borlaug

Lối vào Phong Nha

 


HOÀNG KIM
NGỌC PHƯƠNG NAM
CHÀO NGÀY MỚI

DẠY VÀ HỌC
CÂY LƯƠNG THỰC
FOOD CROPS



THƯ VIỆN NGHỀ LÚA
Thư viện Khoa học Xã hội





Cassava in Vietnam



A New Future for Cassava in Asia

On-line: Cassava in Asia
(Tải tài liệu PDF tại đây)


 

KimFaceBook
KimYouTube

KimLinkedIn

Songkhongtubien

KIMYOUTUBE. Video nhạc tuyển Sóng không từ biển (xem tiếp).



GỬI THƯ ĐIẾN TỬ VÀ
LIÊN KẾT TRỰC TUYẾN

hoangkimvietnam@gmail.com 
hoangkim@hcmuaf.edu.vn  
TS. Hoàng Kim

http://foodcrops.vn
http://vi.gravatar.com/hoangkimvn
http://en.gravatar.com/hoangkimvn

Thành viên

Email:
Password

Nội dung

  Dạy và học 15 tháng 9


Darwin

CHÀO NGÀY MỚI 15 THÁNG 9
Hoàng Kim
CNM365 Tình yêu cuộc sốngTrà sớm nhớ bạn hiền; Mùa Trung Thu tình thân; Thanh trà Thủy Biều Huế; Trăng rằm vui chơi giăng; Thăm nhà cũ của Darwin; Làng Minh Lệ quê tôi; Bến Lội Đền Bốn Miều; Đá Đứng chốn sông thiêng; Ta về với Linh Giang; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Ngày 15 tháng 9 hàng năm được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chọn làm Ngày Quốc tế Dân chủ (International Day of Democracy) tại Quyết định vào ký ngày 15 tháng 9 năm 2007, với mục đích thúc đẩy và duy trì các nguyên tắc dân chủ và mời gọi tất cả các quốc gia và các tổ chức thành viên kỷ niệm ngày này một cách thích hợp để góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng. Ngày 15 tháng 9 năm 1835, Charles Darwin (hình) trong chuyến thứ hai trên tàu HMS Beagle, tới Quần đảo Galápagos, ở đấy ông phát triển học thuyết tiến hóa. Ngày 15 tháng 9 năm 1945 Thông tấn xã Việt Nam được thành lập dưới tên Việt Nam Thông tấn xã. Bài chọn lọc ngày 15 tháng 9 Trà sớm nhớ bạn hiền; Mùa Trung Thu tình thân; Thanh trà Thủy Biều Huế; Trăng rằm vui chơi giăng; Thăm nhà cũ của Darwin; Làng Minh Lệ quê tôi; Bến Lội Đền Bốn Miều; Đá Đứng chốn sông thiêng; Ta về với Linh Giang; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Việt Nam vị thế mới; Việt Nam con đường xanh; Giấc mơ Lúa Siêu Xanh; Gạo Việt Ngọc phương Nam; Linh Giang sông quê hương; Hoa Đất của quê hương; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-9/

Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nang-moi-1-e1589670316958.jpg

TRÀ SỚM NHỚ BẠN HIỀN
Hoàng Kim

Ban mai tỉnh thức chim kêu cửa
Hoa rắc bên song đẫm nước non
Ô hay gió mát hương trời biển
An giấc đêm ngon chí vẫn nồng *

(*) Lưu chùm ảnh và thơ “Trà sớm nhớ bạn hiền”
https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tra-som-nho-ban-hien/

TRÀ SỚM VUI NGÀY MỚI
Hoàng Kim

Ban mai chợt tỉnh thức
Nghe đầy tiếng chim kêu
Đêm qua mây mưa thế
Hoa mai rụng ít nhiều.

Trà sớm thương người hiền,
trong không gian tỉnh lặng,
ăn sáng và chuyện vui,
lắng nghe đời thật chậm.

Ai học làm và dạy.
Ai vô sự là tiên
Ai an nhàn thanh thản
Ai thân với bạn hiền.

Văn chương là cõi mộng.
Giấc mơ lành trăm năm.
Phúc hậu là lẽ sống.
Thơ ra ngoài ngàn năm,

Chuyện Tình yêu cuộc sống,
Ông Nguyễn và bác Văn.
Cụ Trình và Trần lão,
Gần gũi mà xa xăm.

Tính sáng hơn châu báu.
Trở về với chính mình.
Trà thơm chào ngày mới.
Vui khỏe và bình yên…

NẮNG MỚI
Hoàng Kim


Mưa ướt đất lành nắng mới lên
Đêm thương sương rụng nhắc ngoài hiên
Núi trùm mây khói trời chất ngất
Ngày tháng thung dung nhớ bạn hiền

TRÀ SỚM THƯƠNG NGƯỜI HIỀN
Hoàng Kim


Sao tình yêu may mắn
Ban mai sáng chân trời
Trà sớm thương người ngọc
Bình sinh mình biết mình

VÔ ĐỀ
Gia Cát Lượng


Mơ màng ai tỉnh trước,
Bình sinh ta biết ta.
Thềm tranh giấc xuân đẫy,
Ngoài song bóng xế tà.

Bản dịch lưu hành trong Tam Quốc diễn nghĩa, dịch bởi Phan Kế Bính

無題
大夢誰先覺,
平生我自知。
草堂春睡足,
窗外日遲遲。

Vô đề

Đại mộng thuỳ tiên giác,
Bình sinh ngã tự tri.
Thảo đường xuân thụy túc,
Song ngoại nhật trì trì.

Dịch nghĩa

Trong giấc mộng lớn, ai là người tỉnh trước?
Trong cuộc đời này ta tự biết ta.
Đang yên giấc ngủ xuân trong ngôi nhà tranh,
Bên ngoài cửa sổ mặt trời (ngày tháng) cứ chậm rãi trôi qua.

ThaiDuonghe

GÕ BAN MAI VÀO PHÍM
Ngôi sao may mắn chân trời
Hoàng Kim

ta gõ ban mai vào bàn phím
gõ vào khuya ngơ ngẫn kiếm tìm
biết em ngủ đợi chờ em tỉnh thức
như ánh sao trời ở chốn xa xôi.

em em em giá mà em biết được
những yêu thương hóa đá chốn xa mờ
sợi tóc bạc vì em mà xanh lại
lời ru và nỗi nhớ ngấm vào thơ.

em thăm thẳm một vườn thiêng cổ tích
chốn ấy cõi riêng khép mở chân trời
ta như chim đại bàng trở về tổ ấm
lại khát Bồng Lai ước vọng mù khơi.

ta gõ ban mai vào bàn phím
dậy em ơi ngày mới đến rồi. (**)

TRÀ SỚM THƯƠNG NGƯỜI HIỀN
Hoàng Kim

Ngắm ảnh nhớ thương ngày tháng cũ
Bạn hiền trà sớm chẳng quên nhau
Ban mai tỉnh thức ngày vui mới
Nắng hửng thanh tâm bát ngát trời

Hieu Nguyenminh, Trần Văn Minh, Trần Thị Lệ, Hoàng Kim, trà sớm ở cố đô Huế, trò chuyện về cụ Miên Thẩm

BÀI THƠ VIÊN ĐÁ THỜI GIAN
Hoàng Kim với anh Phan Chí


“Về quê lần trước ghé thăm đây.
Đất hiếu cầu thương níu bạn bầy.
Thơ thiền Nhất Hạnh tìm nơi cũ.
Mặt trời từng hạt chính nơi này”
(HK).

Cà phê ở Huế thơm ngon lắm.
Mười bốn ngàn thôi uống suốt ngày.
Ngắm em tóc gió bay bay nắng.
Nghe bạn tâm tình hơn rượu say”
(PC)

@ với anh PC: Em Ra Huế thăm vị chân chúa Nguyễn Hoàng ở lăng Trường Cơ, tọa lạc tại xã La Khê, huyện Hương Trà, nay là làng La Khê, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; thăm Thiên Thụ Sơn vùng cây trên 2000 ha mà triều Nguyễn dày công mang kỳ hoa dị thảo cả nước có nguồn cây trái chính yếu đặc sản đất phương Nam về trồng ở chốn kinh kỳ để lưu dấu những hoài niệm bôn tẩu trọn đời quy giang sơn về một mối. Lạ lùng thay, khi được may mắn uống trà ban mai tĩnh lặng ở Từ Hiếu với bạn hiền lại được lắng nghe cổ vật và các trang sách uyên áo của các vị thiền sư trò chuyện. Tâm chợt ngộ ra rằng vị chân chúa nhà Nguyễn chưa hẳn đã ở Trường Cơ mà có thể ẩn khuất ở chính nơi đây, gần Nam Giao và phía sau của chính điện Từ Hiếu, cội nguồn của hiếu sinh.

KHÁT KHAO XANH
Hoàng Kim

Khát khao xanh
Trời xanh
Biển xanh
Cây xanh
Con đường xanh
Giấc mơ hạnh phúc.

Anh tan vào em
thành ngôi sao may mắn
Em dựa vào anh
thành niềm tin hi vọng
Mình hòa vào nhau
ươm mầm xanh sự sống

Những thiên thần bé nhỏ
sinh thành từ khát khao xanh.

NGÔI SAO MAI CHÂN TRỜI
Hoàng Kim

Em đọc lại Nhà Giả Kim em nhé
Bài ca thời gian câu chuyện cuộc đời
Một giấc mơ Người đi tìm kho báu
Theo ước mơ mình tới chốn xa xôi …

Bậc tiên tri biết nhìn sâu khát vọng
Khuyến khích em theo mơ ước tuổi hoa
Đi tới cuối con đường hạnh phúc
Hãy là chính mình, ta chính là ta.

Em thấu hiểu có ngôi sao may mắn
Luôn bên em lấp lánh phía chân trời
Nơi bảng lãng
thơ tình Hồ núi Cốc
Giấc mơ đưa ta về cổ tích xa xôi  …

Lên đường đi em
Bình minh đã rạng
Vui bước tới thảnh thơi
Vui đi dưới mặt trời!

Ta hãy chăm như con ong làm mật
Cuộc đời này là hương hoa.
Ngày mới yêu thương vẫy gọi,
Ngọc cho đời vui khỏe cho ta.

Hoàng Kim

XUÂN SỚM NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

Trời trong vắt và xuân gần gũi quá
Đóa hoa xuân lặng lẽ nở bên thềm
Giọt sương ngọc lung linh trên lộc nõn
Đất giao hòa xuân sớm hóa mênh mông.

XUÂN SỚM
Hoàng Kim

Sớm mai trời lạnh giá
Ngắm cảnh nhớ Đào Công
Chuyển mùa trời chưa ấm
Tuyết xuân thương người hiền

Đêm trắng và Bình Minh
Thung dung chào ngày mới
Phúc hậu sống an nhiên
Đông qua rồi xuân tới.

Ngược gió đi không nản
Rừng thông tuyết phủ dày
Ngọa Long cương đâu nhỉ
Đầy trời hoa tuyết bay

NGỌC PHƯƠNG NAM
Hoàng Kim

hứng mật đời
thành thơ
việc nghìn năm hữu lý
trạng Trình

đến Trúc Lâm
đạt năm việc lớn Hoàng Thành
đất trời xanh
Yên Tử …

(*) Hoàng Kim họa đối
THUYỀN ĐỘC MỘC
Trịnh Tuyên

Quên tên cây
làm thuyền
Tận cùng nỗi cô đơn
– độc mộc!

Khoét hết ruột
Chỉ để một lần ngược thác
bất chấp đời
lênh đênh…‘ (*)

Cảm ơn Nguyen Thanh Binh thầm lặng mà hiệu quả đóng góp cho quê hương. Trà sớm với bạn hiền cùng Nguyen Thanh Binh (Roots of Peace) cũng lại là thật đáng nhớ. Ba giờ khuya, Bình ra bến tàu đón tôi, trà sớm là với nông dân. Quảng Trị dân ra đồng sớm (chứ không phải 8:00 sáng theo lịch làm việc hành chính). Nguyen Thanh Binh thân với tôi cũng như nhóm bạn nhà nông ở Phú Yên, Sóc Trăng, Đăk Lăk, Đồng Nai, Tây Ninh, … Những buổi học trên đồng giữa khoa học, khuyến nông và nông dân luôn thiết thực với cuộc sống mỗi ngày của người dân và thực sự là chén cơm của họ.

mientham

MIÊN THẨM THẦY THƠ VIỆT
Hoàng Kim.

“Văn như Siêu Quát vô tiền Hán; Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” Vua Tự Đức ông vua nổi tiếng hay chữ thời Nguyễn trong lịch sử Việt Nam đã viết như vậy. Vua Tự Đức  trước mộ Tùng Thiện Vương cũng cảm khái đề thơ: Nhất Đại Thi Ông thệ bất hoàn! (Sao Nhất Đại Thi Ông nỡ không trở lại !). Sổ xích tân phần tỳ mẫu mộ Kỷ thiên cựu vịnh bá nhân hoàn (Vài thước đất vun gần mộ mẹ Mấy bài thơ rãi khắp bầu trời.)   Tôi theo chân Lê Ngọc Trác tìm về Tùng Thiện Vương, lần theo lời đánh giá này để tìm về cội nguồn hiểu rõ thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm.

Miên Thẩm cuộc đời và thơ văn

Tùng Thiện Vương  tên thật là Nguyễn Phúc Miên Thẩm, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1819 nhằm ngày 24 tháng 10 năm Kỷ Mão tại Cung Thanh Hoà, trong Đại nội Kinh thành Huế, mất ngày 30 tháng 4 năm 1870, tên tự là Trọng Uyên,  tên tự khác là Thận Minh, hiệu Thương Sơn, biệt hiệu Bạch Hào Tử.  Ông là một nhà thơ lớn của triều đại nhà Nguyễn ở trong hội Mạc Vân thi xã nổi tiếng. Miên Thẩm cùng với hai em là Tuy Lý Vương, Tương An Quận Vương được người đời xưng tụng là “Tam Đường”. Ông là  cháu nội của vua Gia Long, con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, em của vua Thiệu Trị, chú của vua Tự Đức.  Mẹ ông là Thục tần Nguyễn Thị Bửu người Bình Chương Gia Định con gái của Tư không Nguyễn Khắc Thiệu rất giỏi chữ nghĩa. Ông thuở nhỏ tên  Hiện đến năm 1832 khi đã có Đế hệ thi ông được cải tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm. Theo Đại Nam liệt truyện, ông thuở nhỏ được cùng ng với các em học  thầy Thân Văn Quyền dạy chu đáo, Sau khi lớn lên ông trở thành con rể của quan đại thần Trương Đăng Quế là danh thần trải bốn triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức trong lịch sử Việt Nam.

Năm 1839 ông được phong làm Tùng Quốc công, mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu, Huế. Năm 1849, ông lập thêm Tiêu Viên  sau phủ, đón mẹ  là Thục tần Nguyễn Thị Bửu và ba em gái (Nguyệt Đình , Mai Am và Huệ Phố ra phụng dưỡng chăm nuôi. Khi các em lần lượt có chồng, rồi mẹ mất, ông cải tạo phủ chính làm nhà thờ, còn mình lui về ở Tiêu Viên và dựng lều tranh bên cạnh mộ mẹ cư tang ba năm. Nhà Tùng Thiện Vương dấu tích nay đối diện với Vĩ Dạ xưa bên sông An Cựu.

Năm 1854 mãn tang, ông được gia phong Tùng Thiện công. Năm 1858, ông mua 12 mẫu ruộng ở xã Dương Xuân, làm nhà ở gọi là Phương Thốn thảo đường. Năm 1865, ông giữ chức Tả Tôn Nhân phủ, trong thời gian này xảy ra sự biến giặc Chày vôi  Trước đó, ông đã gả con gái là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng, một thanh niên ở làng An Truyền (tức làng Chuồn ở xã Phú An huyện Phú Vang ngày nay). Nguyên Đoàn Hữu Trưng cha mất sớm, mẹ bị mù, đông em, nên từ thuở nhỏ ông đã phải làm lụng vất vả để nuôi em, nuôi mẹ. Dù vậy, vốn thông minh và ham học, ngay từ buổi ấy ông đã là người nổi tiếng hay chữ khắp vùng. Vào một dịp Tết, nhờ một câu đối mà Đoàn Trưng và Đoàn Trực được Tuy Lý Vương Miên Trinh cho vào học trong vương phủ . Tài học của Đoàn Trưng có dịp vang lên chốn kinh thành. Năm 1864  Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (anh ruột Tuy Lý Vương), cũng vì quý tài, gả con gái đầu là Thể Cúc cho Đoàn Trưng, dù lúc ấy ông chưa đỗ đạt gì. Năm 1866, Hữu Trưng ngầm làm cuộc nổi dậy nhằm lật đổ vua Tự Đức bằng Đinh Đạo[6] (con Hồng Bảo). Việc thất bại, Hữu Trưng và nhiều người bị hành hình. Mặc dù trước đó, Hữu Trưng đã lấy cớ vợ cư xử trái lễ với mẹ chồng mà trả về để tránh liên lụy cho nhà vợ, Miên Thẩm cũng trói cả con gái và cháu ngoại, quỳ dâng sớ xin chịu tội. Tự Đức không kết tội chỉ nói ông: “Chọn rể không cẩn thận để mất thanh danh, nay trừ bổng trong tám năm”. Suốt những năm bị trừ bổng ấy, ông lên ngôi chùa cổ Từ Lâm hoang tàn ở xã Dương Xuân làm nơi cư ngụ, vợ con phải canh tác trồng cây quả đem ra chợ bán để có cái ăn hàng ngày. Ông mất ngày 30 tháng 3  năm Canh Ngọ (tức 30 tháng 4 năm 1870), lúc 51 tuổi. Thụy là Văn Nhã. Năm 1878 ông được  vua  Tự Đức gia tặng là Tùng Thiện Quận vương. Năm 1936 vua Bảo Bảo Đại  mới truy phong ông là Tùng Thiện Vương mà ngày nay vẫn gọi.

Miên Thẩm là Đỗ Phủ thơ Việt

Ông sống thận trọng, minh triết, trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, các ông hoàng nhà Nguyễn không được đi thi, ít được tham gia chính sự, khi đất nước đang hết sức rối ren: nội bộ triều đình lủng củng, rạn nứt, loạn lạc khắp nơi, thiên tai, mất mùa nhiều năm cùng nạn ngoại bang xâm lấn. Hai trăm năm sau thật khó xác định được tài năng thật sự và đóng góp của ông trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự… Chỉ biết rằng sinh thời, Miên Thẩm là một ông hoàng có nhiều uy tín bởi đạo đức cao, tri thức rộng. Ông đến với mọi người đều bằng tấm lòng chân thực, khiêm tốn, phóng khoáng; không hề phân biệt địa vị, tuổi tác hay sang hèn. Nhờ vậy Mạc Vân thi xã còn gọi là Tùng Vân thi xã mà ông là “Tao đàn nguyên súy” tập họp được nhiều danh sĩ đương thời, trong đó có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Giai và nhiều hoàng thân quý tộc như Thọ Xuân Vương Miên Định, Hàm Thuận Quận Công Miên Thủ, Tuy Lý Vương Miên Trinh, Tương An Quận Vương Miên Bửu, Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện, …

Miên Thẩm là một nhà thơ chữ Hán bậc thầy. Ông được một số nhà thơ Trung Quốc đánh giá cao, trong đó có Tiến sĩ Lao Sùng Quang. Chung Ứng Nguyên một danh sĩ người Bắc Kinh Trung Quốc đã làm thơ ca tụng Miên Thẩm Tùng Thiện Vương: Nhược sử nguyên tinh giáng Trung Quốc / Hàn trào, Tô hải, si đồng lưu / Hu ta công hồ thùy dữ trù / Hu ta công hồ vô dữ trù (Như Thương Sơn sinh vào Trung Quốc/ Thi tài ngang với ông Hàn Dũ, ông Tô Đông Pha/ Than ôi ! đời nay ai sánh vai? /Than ôi đời nay không ai có thể sánh vai được!)

Miên Thẩm cũng được các danh sĩ đương thời, kể cả vua Tự Đức nhờ duyệt thơ. Cao Bá Quát (1809 – 1855) một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam, quốc sư của cuộc nổi dậy Mỹ Lương tại bài đề tựa Thương Sơn thi tập của Miên Thẩm, đã viết:…”Tôi theo Quốc công (Tùng Thiện Vương) chơi đã lâu. Thơ của Quốc công đâu phải đợi đến ngày nay mới nói đến? Và cũng đâu phải đợi đến Quát này mới có thể nói được? Sáng ngày mai, đứng ở ngoài cầu Đốc Sơ trông về phía Nam… đó chẳng phải là núi Thương Sơn ư? Mua rượu uống rồi, cởi áo ở nơi bắc trường đình, bồi hồi ngâm vịnh các bài thơ “Hà Thượng” của Quốc công, lòng khách càng cảm thấy xa xăm man mác … 

Tùng Thiện Vương để lại cho đời một gia tài văn học thật đồ sộ (14 tập). Trong đó Thương Sơn thi tập gồm 54 quyển chia ra 8 tập với hơn 2.200 bài thơ. Các tác phẩm chính khác như  Thương Sơn từ tập- Thương Sơn thi thoại- Thương Sơn ngoại tập- Thương Sơn văn di- Nạp bị văn tập- Học giá chí- Nam cầm phổ- Độc ngã thư sao- Lão sinh thường đàm- Tịnh y kí- Tình kị tập- Thi tấu hợp biên- Lịch đại thi tuyển- Thức cốc biên – Thi kinh diễn nghĩa ca- Lịch đại đế vương thống hệ đồ- Lịch đại thi nhân tiểu sử Về thơ quốc âm của ông, nay chỉ còn bài đề sách “Nữ phạm diễn nghĩa từ” của Tuy Lý Vương và khúc liên ngâm Hoà lạc ca (Tùng Thiện,Tuy Lý, Tương An). 

Miên Thẩm bậc thầy văn chương Việt

Ví Miên Thẩm là Đỗ Phủ thơ Việt liệu có nói quá hay không?
Đọc Đỗ Phủ nhớ Đặng Dung, Đỗ Phủ những bài thơ bi tráng,  Đỗ Phủ là Thi thánh Thi sử Trung Quốc do đức độ cao thượng, tài thơ văn tuyệt vời. Đỗ Phủ cùng Lý Bạch là hai nhà thơ vĩ đại nhất thời nhà Đường. Thơ Đỗ Phủ nổi tiếng vì phong cách đơn giản và thanh lịch đặc sắc bậc nhất trong thơ cổ điển Trung Quốc. Tầm vóc Đỗ Phủ sánh với Victor Hugo và Shakespeare. Thơ Đỗ Phủ ảnh hưởng sâu sắc tới văn hóa cổ điển Trung Quốc và văn học hiện đại Nhật Bản. Cụ Nguyễn Du đã từng thán phục Đỗ Phủ “Thiên cổ văn chương thiên cổ sư Bình sinh bội phục vị thường ly” (Văn chương lưu muôn đời, bậc thầy muôn đời Bình sinh bái phục không lúc nào ngớt. Cụ Hồ Chí Minh trong Di chúc đã có trích thơ Đỗ Phủ. Cuộc đời Đỗ Phủ là tấm gương phản chiếu đất nước Trung Hoa thời loạn khi đời sống nhân dân tột cùng điêu đứng vì thường xuyên biến động. Đỗ Phủ bộ sưu tập thơ được bảo tồn khoảng 1500 bài thơ đều là tuyệt phẩm. Thi Viện hiện có Đỗ Phủ trực tuyến 1450 bài. 

Tùng Thiện Vương Miên Thẩm cuộc đời và thơ văn thật đáng khâm phục và kinh ngạc. Miên Thẩm lưu lại cho đời 14 bộ sách, riêng bộ ‘Thương Sơn thi tập’ có 2.200 bài thơ, tiếc là thơ ông chưa được đầu tư dịch thuật Hán Nôm bảo tồn và phát triển thỏa đáng. Thi Viện chỉ mới lưu một sồ bài. Soi gương kim cổ thì danh sĩ Trung Hoa Chung Ứng Nguyên đã ví ông với đại văn hào Hàn Dũ và đại văn hào Tô Đông Pha là bát đại gia Đường Tống: “Như Thương Sơn sinh vào Trung Quốc/ Thi tài ngang với ông Hàn Dũ, ông Tô Đông Pha/ Than ôi ! đời nay ai sánh vai? /Than ôi đời nay không ai có thể sánh vai được!“. Chúng ta khi bình tâm xem xét kỹ lại cuộc đời thơ văn và tầm minh triết thì Miên Thẩm là Đỗ Phủ thơ Việt.  Ba ý chính để đánh giá: Thứ nhất là chất lượng thơ. Thứ hai là khối lượng tác phẩm và những bài thơ “giản dị xúc động ám ảnh” đọng lại trong lòng người đọc; Thứ ba là tư tưởng cuộc đời nhân cách tác giả là minh triết trí tuệ gương cho người đương thời và hậu thế. Miên Thẩm cả ba ý này đều rất gần gũi với Đỗ Phủ qua những tư liệu lắng đọng ở “Miên Thẩm cuộc đời và thơ văn” nêu trên. Xin được trích dẫn giới thiệu một số bài thơ tuyển chọn dưới đây.

Thi Viện có lưu một sồ bài thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm dưới đây:

  1. Bạch Đằng giang
  2. Bần gia
  3. Bất mị tuyệt cú
  4. Bi thu
  5. Biệt lão hữu
  6. Chiên đàn thụ
  7. Cổ ý
  8. Cừ Khê thảo đường kỳ 1
  9. Cừ Khê thảo đường kỳ 2
  10. Cừ Khê thảo đường kỳ 3
  11. Dạ bạc Nguyệt Biều
  12. Dạ bộ khẩu hào
  13. Dạ độ Kiến Giang ngẫu thành
  14. Dạ văn trạo ca
  15. Dịch kỳ
  16. Đạo phùng cố nhân
  17. Đăng Thuý Vân sơn hữu cảm
  18. Điền lư
  19. Điền lư tiểu khế đề bích
  20. Điếu Trương Độn Tẩu
  21. Độc Nguyễn Đình Chiểu nghĩa dân tử trận quốc ngữ văn
  22. Đông viên hoa
  23. Gia Hội độ
  24. Giang thôn kỳ 1
  25. Giang thôn kỳ 2
  26. Hạ thọ
  27. Hải thượng
  28. Hán cung từ
  29. Hoan Châu dạ vũ
  30. Hương Cần
  31. Khách đình
  32. Kim hộ thán
  33. Kim Luông dạ bạc
  34. Kim tỉnh oán
  35. Kỷ mộng
  36. Lão bệnh
  37. Lão khứ
  38. Liễu
  39. Long thành trúc chi từ kỳ 1
  40. Long thành trúc chi từ kỳ 2
  41. Long Thọ cương
  42. Lục thuỷ
  43. Lựu
  44. Mỵ Châu từ
  45. Nam Định hải dật
  46. Nam khê
  47. Ngô Vương oán
  48. Nhàn cư
  49. Nhất Trụ tự
  50. Nhĩ hà

  51. Darwin

    CHÀO NGÀY MỚI 15 THÁNG 9
    Hoàng Kim
    CNM365 Tình yêu cuộc sốngTrà sớm nhớ bạn hiền; Mùa Trung Thu tình thân; Thanh trà Thủy Biều Huế; Trăng rằm vui chơi giăng; Thăm nhà cũ của Darwin; Làng Minh Lệ quê tôi; Bến Lội Đền Bốn Miều; Đá Đứng chốn sông thiêng; Ta về với Linh Giang; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Ngày 15 tháng 9 hàng năm được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc chọn làm Ngày Quốc tế Dân chủ (International Day of Democracy) tại Quyết định vào ký ngày 15 tháng 9 năm 2007, với mục đích thúc đẩy và duy trì các nguyên tắc dân chủ và mời gọi tất cả các quốc gia và các tổ chức thành viên kỷ niệm ngày này một cách thích hợp để góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng. Ngày 15 tháng 9 năm 1835, Charles Darwin (hình) trong chuyến thứ hai trên tàu HMS Beagle, tới Quần đảo Galápagos, ở đấy ông phát triển học thuyết tiến hóa. Ngày 15 tháng 9 năm 1945 Thông tấn xã Việt Nam được thành lập dưới tên Việt Nam Thông tấn xã. Bài chọn lọc ngày 15 tháng 9 Trà sớm nhớ bạn hiền; Mùa Trung Thu tình thân; Thanh trà Thủy Biều Huế; Trăng rằm vui chơi giăng; Thăm nhà cũ của Darwin; Làng Minh Lệ quê tôi; Bến Lội Đền Bốn Miều; Đá Đứng chốn sông thiêng; Ta về với Linh Giang; Quảng Bình đất Mẹ ơn Người; Việt Nam vị thế mới; Việt Nam con đường xanh; Giấc mơ Lúa Siêu Xanh; Gạo Việt Ngọc phương Nam; Linh Giang sông quê hương; Hoa Đất của quê hương; Thông tin tại https://hoangkimvn.wordpress.com/http://fa.hcmuaf.edu.vn/hoangkimlonghttps://cnm365.wordpress.com/category/chao-ngay-moi-15-thang-9/

    Hình ảnh này không có thuộc tính alt; tên tập tin này là nang-moi-1-e1589670316958.jpg

    TRÀ SỚM NHỚ BẠN HIỀN
    Hoàng Kim

    Ban mai tỉnh thức chim kêu cửa
    Hoa rắc bên song đẫm nước non
    Ô hay gió mát hương trời biển
    An giấc đêm ngon chí vẫn nồng *

    (*) Lưu chùm ảnh và thơ “Trà sớm nhớ bạn hiền”
    https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tra-som-nho-ban-hien/

    TRÀ SỚM VUI NGÀY MỚI
    Hoàng Kim

    Ban mai chợt tỉnh thức
    Nghe đầy tiếng chim kêu
    Đêm qua mây mưa thế
    Hoa mai rụng ít nhiều.

    Trà sớm thương người hiền,
    trong không gian tỉnh lặng,
    ăn sáng và chuyện vui,
    lắng nghe đời thật chậm.

    Ai học làm và dạy.
    Ai vô sự là tiên
    Ai an nhàn thanh thản
    Ai thân với bạn hiền.

    Văn chương là cõi mộng.
    Giấc mơ lành trăm năm.
    Phúc hậu là lẽ sống.
    Thơ ra ngoài ngàn năm,

    Chuyện Tình yêu cuộc sống,
    Ông Nguyễn và bác Văn.
    Cụ Trình và Trần lão,
    Gần gũi mà xa xăm.

    Tính sáng hơn châu báu.
    Trở về với chính mình.
    Trà thơm chào ngày mới.
    Vui khỏe và bình yên…

    NẮNG MỚI
    Hoàng Kim


    Mưa ướt đất lành nắng mới lên
    Đêm thương sương rụng nhắc ngoài hiên
    Núi trùm mây khói trời chất ngất
    Ngày tháng thung dung nhớ bạn hiền

    TRÀ SỚM THƯƠNG NGƯỜI HIỀN
    Hoàng Kim


    Sao tình yêu may mắn
    Ban mai sáng chân trời
    Trà sớm thương người ngọc
    Bình sinh mình biết mình

    VÔ ĐỀ
    Gia Cát Lượng


    Mơ màng ai tỉnh trước,
    Bình sinh ta biết ta.
    Thềm tranh giấc xuân đẫy,
    Ngoài song bóng xế tà.

    Bản dịch lưu hành trong Tam Quốc diễn nghĩa, dịch bởi Phan Kế Bính

    無題
    大夢誰先覺,
    平生我自知。
    草堂春睡足,
    窗外日遲遲。

    Vô đề

    Đại mộng thuỳ tiên giác,
    Bình sinh ngã tự tri.
    Thảo đường xuân thụy túc,
    Song ngoại nhật trì trì.

    Dịch nghĩa

    Trong giấc mộng lớn, ai là người tỉnh trước?
    Trong cuộc đời này ta tự biết ta.
    Đang yên giấc ngủ xuân trong ngôi nhà tranh,
    Bên ngoài cửa sổ mặt trời (ngày tháng) cứ chậm rãi trôi qua.

    ThaiDuonghe

    GÕ BAN MAI VÀO PHÍM
    Ngôi sao may mắn chân trời
    Hoàng Kim

    ta gõ ban mai vào bàn phím
    gõ vào khuya ngơ ngẫn kiếm tìm
    biết em ngủ đợi chờ em tỉnh thức
    như ánh sao trời ở chốn xa xôi.

    em em em giá mà em biết được
    những yêu thương hóa đá chốn xa mờ
    sợi tóc bạc vì em mà xanh lại
    lời ru và nỗi nhớ ngấm vào thơ.

    em thăm thẳm một vườn thiêng cổ tích
    chốn ấy cõi riêng khép mở chân trời
    ta như chim đại bàng trở về tổ ấm
    lại khát Bồng Lai ước vọng mù khơi.

    ta gõ ban mai vào bàn phím
    dậy em ơi ngày mới đến rồi. (**)

    TRÀ SỚM THƯƠNG NGƯỜI HIỀN
    Hoàng Kim

    Ngắm ảnh nhớ thương ngày tháng cũ
    Bạn hiền trà sớm chẳng quên nhau
    Ban mai tỉnh thức ngày vui mới
    Nắng hửng thanh tâm bát ngát trời

    Hieu Nguyenminh, Trần Văn Minh, Trần Thị Lệ, Hoàng Kim, trà sớm ở cố đô Huế, trò chuyện về cụ Miên Thẩm

    BÀI THƠ VIÊN ĐÁ THỜI GIAN
    Hoàng Kim với anh Phan Chí


    “Về quê lần trước ghé thăm đây.
    Đất hiếu cầu thương níu bạn bầy.
    Thơ thiền Nhất Hạnh tìm nơi cũ.
    Mặt trời từng hạt chính nơi này”
    (HK).

    Cà phê ở Huế thơm ngon lắm.
    Mười bốn ngàn thôi uống suốt ngày.
    Ngắm em tóc gió bay bay nắng.
    Nghe bạn tâm tình hơn rượu say”
    (PC)

    @ với anh PC: Em Ra Huế thăm vị chân chúa Nguyễn Hoàng ở lăng Trường Cơ, tọa lạc tại xã La Khê, huyện Hương Trà, nay là làng La Khê, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế; thăm Thiên Thụ Sơn vùng cây trên 2000 ha mà triều Nguyễn dày công mang kỳ hoa dị thảo cả nước có nguồn cây trái chính yếu đặc sản đất phương Nam về trồng ở chốn kinh kỳ để lưu dấu những hoài niệm bôn tẩu trọn đời quy giang sơn về một mối. Lạ lùng thay, khi được may mắn uống trà ban mai tĩnh lặng ở Từ Hiếu với bạn hiền lại được lắng nghe cổ vật và các trang sách uyên áo của các vị thiền sư trò chuyện. Tâm chợt ngộ ra rằng vị chân chúa nhà Nguyễn chưa hẳn đã ở Trường Cơ mà có thể ẩn khuất ở chính nơi đây, gần Nam Giao và phía sau của chính điện Từ Hiếu, cội nguồn của hiếu sinh.

    KHÁT KHAO XANH
    Hoàng Kim

    Khát khao xanh
    Trời xanh
    Biển xanh
    Cây xanh
    Con đường xanh
    Giấc mơ hạnh phúc.

    Anh tan vào em
    thành ngôi sao may mắn
    Em dựa vào anh
    thành niềm tin hi vọng
    Mình hòa vào nhau
    ươm mầm xanh sự sống

    Những thiên thần bé nhỏ
    sinh thành từ khát khao xanh.

    NGÔI SAO MAI CHÂN TRỜI
    Hoàng Kim

    Em đọc lại Nhà Giả Kim em nhé
    Bài ca thời gian câu chuyện cuộc đời
    Một giấc mơ Người đi tìm kho báu
    Theo ước mơ mình tới chốn xa xôi …

    Bậc tiên tri biết nhìn sâu khát vọng
    Khuyến khích em theo mơ ước tuổi hoa
    Đi tới cuối con đường hạnh phúc
    Hãy là chính mình, ta chính là ta.

    Em thấu hiểu có ngôi sao may mắn
    Luôn bên em lấp lánh phía chân trời
    Nơi bảng lãng
    thơ tình Hồ núi Cốc
    Giấc mơ đưa ta về cổ tích xa xôi  …

    Lên đường đi em
    Bình minh đã rạng
    Vui bước tới thảnh thơi
    Vui đi dưới mặt trời!

    Ta hãy chăm như con ong làm mật
    Cuộc đời này là hương hoa.
    Ngày mới yêu thương vẫy gọi,
    Ngọc cho đời vui khỏe cho ta.

    Hoàng Kim

    XUÂN SỚM NGỌC PHƯƠNG NAM
    Hoàng Kim

    Trời trong vắt và xuân gần gũi quá
    Đóa hoa xuân lặng lẽ nở bên thềm
    Giọt sương ngọc lung linh trên lộc nõn
    Đất giao hòa xuân sớm hóa mênh mông.

    XUÂN SỚM
    Hoàng Kim

    Sớm mai trời lạnh giá
    Ngắm cảnh nhớ Đào Công
    Chuyển mùa trời chưa ấm
    Tuyết xuân thương người hiền

    Đêm trắng và Bình Minh
    Thung dung chào ngày mới
    Phúc hậu sống an nhiên
    Đông qua rồi xuân tới.

    Ngược gió đi không nản
    Rừng thông tuyết phủ dày
    Ngọa Long cương đâu nhỉ
    Đầy trời hoa tuyết bay

    NGỌC PHƯƠNG NAM
    Hoàng Kim

    hứng mật đời
    thành thơ
    việc nghìn năm hữu lý
    trạng Trình

    đến Trúc Lâm
    đạt năm việc lớn Hoàng Thành
    đất trời xanh
    Yên Tử …

    (*) Hoàng Kim họa đối
    THUYỀN ĐỘC MỘC
    Trịnh Tuyên

    Quên tên cây
    làm thuyền
    Tận cùng nỗi cô đơn
    – độc mộc!

    Khoét hết ruột
    Chỉ để một lần ngược thác
    bất chấp đời
    lênh đênh…‘ (*)

    Cảm ơn Nguyen Thanh Binh thầm lặng mà hiệu quả đóng góp cho quê hương. Trà sớm với bạn hiền cùng Nguyen Thanh Binh (Roots of Peace) cũng lại là thật đáng nhớ. Ba giờ khuya, Bình ra bến tàu đón tôi, trà sớm là với nông dân. Quảng Trị dân ra đồng sớm (chứ không phải 8:00 sáng theo lịch làm việc hành chính). Nguyen Thanh Binh thân với tôi cũng như nhóm bạn nhà nông ở Phú Yên, Sóc Trăng, Đăk Lăk, Đồng Nai, Tây Ninh, … Những buổi học trên đồng giữa khoa học, khuyến nông và nông dân luôn thiết thực với cuộc sống mỗi ngày của người dân và thực sự là chén cơm của họ.

    mientham

    MIÊN THẨM THẦY THƠ VIỆT
    Hoàng Kim.

    “Văn như Siêu Quát vô tiền Hán; Thi đáo Tùng Tuy thất thịnh Đường” Vua Tự Đức ông vua nổi tiếng hay chữ thời Nguyễn trong lịch sử Việt Nam đã viết như vậy. Vua Tự Đức  trước mộ Tùng Thiện Vương cũng cảm khái đề thơ: Nhất Đại Thi Ông thệ bất hoàn! (Sao Nhất Đại Thi Ông nỡ không trở lại !). Sổ xích tân phần tỳ mẫu mộ Kỷ thiên cựu vịnh bá nhân hoàn (Vài thước đất vun gần mộ mẹ Mấy bài thơ rãi khắp bầu trời.)   Tôi theo chân Lê Ngọc Trác tìm về Tùng Thiện Vương, lần theo lời đánh giá này để tìm về cội nguồn hiểu rõ thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm.

    Miên Thẩm cuộc đời và thơ văn

    Tùng Thiện Vương  tên thật là Nguyễn Phúc Miên Thẩm, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1819 nhằm ngày 24 tháng 10 năm Kỷ Mão tại Cung Thanh Hoà, trong Đại nội Kinh thành Huế, mất ngày 30 tháng 4 năm 1870, tên tự là Trọng Uyên,  tên tự khác là Thận Minh, hiệu Thương Sơn, biệt hiệu Bạch Hào Tử.  Ông là một nhà thơ lớn của triều đại nhà Nguyễn ở trong hội Mạc Vân thi xã nổi tiếng. Miên Thẩm cùng với hai em là Tuy Lý Vương, Tương An Quận Vương được người đời xưng tụng là “Tam Đường”. Ông là  cháu nội của vua Gia Long, con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, em của vua Thiệu Trị, chú của vua Tự Đức.  Mẹ ông là Thục tần Nguyễn Thị Bửu người Bình Chương Gia Định con gái của Tư không Nguyễn Khắc Thiệu rất giỏi chữ nghĩa. Ông thuở nhỏ tên  Hiện đến năm 1832 khi đã có Đế hệ thi ông được cải tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm. Theo Đại Nam liệt truyện, ông thuở nhỏ được cùng ng với các em học  thầy Thân Văn Quyền dạy chu đáo, Sau khi lớn lên ông trở thành con rể của quan đại thần Trương Đăng Quế là danh thần trải bốn triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức trong lịch sử Việt Nam.

    Năm 1839 ông được phong làm Tùng Quốc công, mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu, Huế. Năm 1849, ông lập thêm Tiêu Viên  sau phủ, đón mẹ  là Thục tần Nguyễn Thị Bửu và ba em gái (Nguyệt Đình , Mai Am và Huệ Phố ra phụng dưỡng chăm nuôi. Khi các em lần lượt có chồng, rồi mẹ mất, ông cải tạo phủ chính làm nhà thờ, còn mình lui về ở Tiêu Viên và dựng lều tranh bên cạnh mộ mẹ cư tang ba năm. Nhà Tùng Thiện Vương dấu tích nay đối diện với Vĩ Dạ xưa bên sông An Cựu.

    Năm 1854 mãn tang, ông được gia phong Tùng Thiện công. Năm 1858, ông mua 12 mẫu ruộng ở xã Dương Xuân, làm nhà ở gọi là Phương Thốn thảo đường. Năm 1865, ông giữ chức Tả Tôn Nhân phủ, trong thời gian này xảy ra sự biến giặc Chày vôi  Trước đó, ông đã gả con gái là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng, một thanh niên ở làng An Truyền (tức làng Chuồn ở xã Phú An huyện Phú Vang ngày nay). Nguyên Đoàn Hữu Trưng cha mất sớm, mẹ bị mù, đông em, nên từ thuở nhỏ ông đã phải làm lụng vất vả để nuôi em, nuôi mẹ. Dù vậy, vốn thông minh và ham học, ngay từ buổi ấy ông đã là người nổi tiếng hay chữ khắp vùng. Vào một dịp Tết, nhờ một câu đối mà Đoàn Trưng và Đoàn Trực được Tuy Lý Vương Miên Trinh cho vào học trong vương phủ . Tài học của Đoàn Trưng có dịp vang lên chốn kinh thành. Năm 1864  Tùng Thiện Vương Miên Thẩm (anh ruột Tuy Lý Vương), cũng vì quý tài, gả con gái đầu là Thể Cúc cho Đoàn Trưng, dù lúc ấy ông chưa đỗ đạt gì. Năm 1866, Hữu Trưng ngầm làm cuộc nổi dậy nhằm lật đổ vua Tự Đức bằng Đinh Đạo[6] (con Hồng Bảo). Việc thất bại, Hữu Trưng và nhiều người bị hành hình. Mặc dù trước đó, Hữu Trưng đã lấy cớ vợ cư xử trái lễ với mẹ chồng mà trả về để tránh liên lụy cho nhà vợ, Miên Thẩm cũng trói cả con gái và cháu ngoại, quỳ dâng sớ xin chịu tội. Tự Đức không kết tội chỉ nói ông: “Chọn rể không cẩn thận để mất thanh danh, nay trừ bổng trong tám năm”. Suốt những năm bị trừ bổng ấy, ông lên ngôi chùa cổ Từ Lâm hoang tàn ở xã Dương Xuân làm nơi cư ngụ, vợ con phải canh tác trồng cây quả đem ra chợ bán để có cái ăn hàng ngày. Ông mất ngày 30 tháng 3  năm Canh Ngọ (tức 30 tháng 4 năm 1870), lúc 51 tuổi. Thụy là Văn Nhã. Năm 1878 ông được  vua  Tự Đức gia tặng là Tùng Thiện Quận vương. Năm 1936 vua Bảo Bảo Đại  mới truy phong ông là Tùng Thiện Vương mà ngày nay vẫn gọi.

    Miên Thẩm là Đỗ Phủ thơ Việt

    Ông sống thận trọng, minh triết, trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt, các ông hoàng nhà Nguyễn không được đi thi, ít được tham gia chính sự, khi đất nước đang hết sức rối ren: nội bộ triều đình lủng củng, rạn nứt, loạn lạc khắp nơi, thiên tai, mất mùa nhiều năm cùng nạn ngoại bang xâm lấn. Hai trăm năm sau thật khó xác định được tài năng thật sự và đóng góp của ông trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự… Chỉ biết rằng sinh thời, Miên Thẩm là một ông hoàng có nhiều uy tín bởi đạo đức cao, tri thức rộng. Ông đến với mọi người đều bằng tấm lòng chân thực, khiêm tốn, phóng khoáng; không hề phân biệt địa vị, tuổi tác hay sang hèn. Nhờ vậy Mạc Vân thi xã còn gọi là Tùng Vân thi xã mà ông là “Tao đàn nguyên súy” tập họp được nhiều danh sĩ đương thời, trong đó có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Hà Tôn Quyền, Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Giai và nhiều hoàng thân quý tộc như Thọ Xuân Vương Miên Định, Hàm Thuận Quận Công Miên Thủ, Tuy Lý Vương Miên Trinh, Tương An Quận Vương Miên Bửu, Hoằng Hóa Quận Vương Miên Triện, …

    Miên Thẩm là một nhà thơ chữ Hán bậc thầy. Ông được một số nhà thơ Trung Quốc đánh giá cao, trong đó có Tiến sĩ Lao Sùng Quang. Chung Ứng Nguyên một danh sĩ người Bắc Kinh Trung Quốc đã làm thơ ca tụng Miên Thẩm Tùng Thiện Vương: Nhược sử nguyên tinh giáng Trung Quốc / Hàn trào, Tô hải, si đồng lưu / Hu ta công hồ thùy dữ trù / Hu ta công hồ vô dữ trù (Như Thương Sơn sinh vào Trung Quốc/ Thi tài ngang với ông Hàn Dũ, ông Tô Đông Pha/ Than ôi ! đời nay ai sánh vai? /Than ôi đời nay không ai có thể sánh vai được!)

    Miên Thẩm cũng được các danh sĩ đương thời, kể cả vua Tự Đức nhờ duyệt thơ. Cao Bá Quát (1809 – 1855) một nhà thơ nổi danh ở giữa thế kỷ 19 trong lịch sử văn học Việt Nam, quốc sư của cuộc nổi dậy Mỹ Lương tại bài đề tựa Thương Sơn thi tập của Miên Thẩm, đã viết:…”Tôi theo Quốc công (Tùng Thiện Vương) chơi đã lâu. Thơ của Quốc công đâu phải đợi đến ngày nay mới nói đến? Và cũng đâu phải đợi đến Quát này mới có thể nói được? Sáng ngày mai, đứng ở ngoài cầu Đốc Sơ trông về phía Nam… đó chẳng phải là núi Thương Sơn ư? Mua rượu uống rồi, cởi áo ở nơi bắc trường đình, bồi hồi ngâm vịnh các bài thơ “Hà Thượng” của Quốc công, lòng khách càng cảm thấy xa xăm man mác … 

    Tùng Thiện Vương để lại cho đời một gia tài văn học thật đồ sộ (14 tập). Trong đó Thương Sơn thi tập gồm 54 quyển chia ra 8 tập với hơn 2.200 bài thơ. Các tác phẩm chính khác như  Thương Sơn từ tập- Thương Sơn thi thoại- Thương Sơn ngoại tập- Thương Sơn văn di- Nạp bị văn tập- Học giá chí- Nam cầm phổ- Độc ngã thư sao- Lão sinh thường đàm- Tịnh y kí- Tình kị tập- Thi tấu hợp biên- Lịch đại thi tuyển- Thức cốc biên – Thi kinh diễn nghĩa ca- Lịch đại đế vương thống hệ đồ- Lịch đại thi nhân tiểu sử Về thơ quốc âm của ông, nay chỉ còn bài đề sách “Nữ phạm diễn nghĩa từ” của Tuy Lý Vương và khúc liên ngâm Hoà lạc ca (Tùng Thiện,Tuy Lý, Tương An). 

    Miên Thẩm bậc thầy văn chương Việt

    Ví Miên Thẩm là Đỗ Phủ thơ Việt liệu có nói quá hay không?
    Đọc Đỗ Phủ nhớ Đặng Dung, Đỗ Phủ những bài thơ bi tráng,  Đỗ Phủ là Thi thánh Thi sử Trung Quốc do đức độ cao thượng, tài thơ văn tuyệt vời. Đỗ Phủ cùng Lý Bạch là hai nhà thơ vĩ đại nhất thời nhà Đường. Thơ Đỗ Phủ nổi tiếng vì phong cách đơn giản và thanh lịch đặc sắc bậc nhất trong thơ cổ điển Trung Quốc. Tầm vóc Đỗ Phủ sánh với Victor Hugo và Shakespeare. Thơ Đỗ Phủ ảnh hưởng sâu sắc tới văn hóa cổ điển Trung Quốc và văn học hiện đại Nhật Bản. Cụ Nguyễn Du đã từng thán phục Đỗ Phủ “Thiên cổ văn chương thiên cổ sư Bình sinh bội phục vị thường ly” (Văn chương lưu muôn đời, bậc thầy muôn đời Bình sinh bái phục không lúc nào ngớt. Cụ Hồ Chí Minh trong Di chúc đã có trích thơ Đỗ Phủ. Cuộc đời Đỗ Phủ là tấm gương phản chiếu đất nước Trung Hoa thời loạn khi đời sống nhân dân tột cùng điêu đứng vì thường xuyên biến động. Đỗ Phủ bộ sưu tập thơ được bảo tồn khoảng 1500 bài thơ đều là tuyệt phẩm. Thi Viện hiện có Đỗ Phủ trực tuyến 1450 bài. 

    Tùng Thiện Vương Miên Thẩm cuộc đời và thơ văn thật đáng khâm phục và kinh ngạc. Miên Thẩm lưu lại cho đời 14 bộ sách, riêng bộ ‘Thương Sơn thi tập’ có 2.200 bài thơ, tiếc là thơ ông chưa được đầu tư dịch thuật Hán Nôm bảo tồn và phát triển thỏa đáng. Thi Viện chỉ mới lưu một sồ bài. Soi gương kim cổ thì danh sĩ Trung Hoa Chung Ứng Nguyên đã ví ông với đại văn hào Hàn Dũ và đại văn hào Tô Đông Pha là bát đại gia Đường Tống: “Như Thương Sơn sinh vào Trung Quốc/ Thi tài ngang với ông Hàn Dũ, ông Tô Đông Pha/ Than ôi ! đời nay ai sánh vai? /Than ôi đời nay không ai có thể sánh vai được!“. Chúng ta khi bình tâm xem xét kỹ lại cuộc đời thơ văn và tầm minh triết thì Miên Thẩm là Đỗ Phủ thơ Việt.  Ba ý chính để đánh giá: Thứ nhất là chất lượng thơ. Thứ hai là khối lượng tác phẩm và những bài thơ “giản dị xúc động ám ảnh” đọng lại trong lòng người đọc; Thứ ba là tư tưởng cuộc đời nhân cách tác giả là minh triết trí tuệ gương cho người đương thời và hậu thế. Miên Thẩm cả ba ý này đều rất gần gũi với Đỗ Phủ qua những tư liệu lắng đọng ở “Miên Thẩm cuộc đời và thơ văn” nêu trên. Xin được trích dẫn giới thiệu một số bài thơ tuyển chọn dưới đây.

    Thi Viện có lưu một sồ bài thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm dưới đây:

    1. Bạch Đằng giang
    2. Bần gia
    3. Bất mị tuyệt cú
    4. Bi thu
    5. Biệt lão hữu
    6. Chiên đàn thụ
    7. Cổ ý
    8. Cừ Khê thảo đường kỳ 1
    9. Cừ Khê thảo đường kỳ 2
    10. Cừ Khê thảo đường kỳ 3
    11. Dạ bạc Nguyệt Biều
    12. Dạ bộ khẩu hào
    13. Dạ độ Kiến Giang ngẫu thành
    14. Dạ văn trạo ca
    15. Dịch kỳ
    16. Đạo phùng cố nhân
    17. Đăng Thuý Vân sơn hữu cảm
    18. Điền lư
    19. Điền lư tiểu khế đề bích
    20. Điếu Trương Độn Tẩu
    21. Độc Nguyễn Đình Chiểu nghĩa dân tử trận quốc ngữ văn
    22. Đông viên hoa
    23. Gia Hội độ
    24. Giang thôn kỳ 1
    25. Giang thôn kỳ 2
    26. Hạ thọ
    27. Hải thượng
    28. Hán cung từ
    29. Hoan Châu dạ vũ
    30. Hương Cần
    31. Khách đình
    32. Kim hộ thán
    33. Kim Luông dạ bạc
    34. Kim tỉnh oán
    35. Kỷ mộng
    36. Lão bệnh
    37. Lão khứ
    38. Liễu
    39. Long thành trúc chi từ kỳ 1
    40. Long thành trúc chi từ kỳ 2
    41. Long Thọ cương
    42. Lục thuỷ
    43. Lựu
    44. Mỵ Châu từ
    45. Nam Định hải dật
    46. Nam khê
    47. Ngô Vương oán
    48. Nhàn cư
    49. Nhất Trụ tự
    50. Nhĩ hà
    51. Phế viên
    52. Phiếm nguyệt
    53. Phù lưu tiền hành
    54. Phụng sắc kính đề Nguyễn hậu
    55. Quá Quảng Bình quan khẩu chiếm
    56. Quân mã hoàng
    57. Quất chi từ
    58. Sơn cư tảo khởi
    59. Sơn trung
    60. Tàn tốt
    61. Tạp cảm
    62. Tạp ngôn
    63. Tặng Cao Bá Quát
    64. Tần cung từ
    65. Thai Dương chu dạ
    66. Thu vọng
    67. Thuật hoài kỳ 1
    68. Thuật hoài kỳ 2
    69. Thuỵ khởi
    70. Tống biệt – Phú đắc Quan san nguyệt
    71. Tống khách
    72. Tống Lương Tứ chi Quảng Nam
    73. Tráng sĩ ca
    74. Trấn Vũ miếu
    75. Tre tróc gốc
    76. Triều
    77. Trường An đạo
    78. Tuyệt bút
    79. Tự dật
    80. Tự quân chi xuất hỹ
    81. Tước phi đa
    82. Ức Bùi Lục
    83. Ức Linh Sơn tự
    84. Văn thiền
    85. Viên cư
    86. Viễn tứ
    87. Vịnh hiểu
    88. Xuân khuê oán
    89. Xuy tiêu ỷ

    “Xuân hiểu”, “Tiến trầu (cúng quan tham)”, “Nhà nghèo” là ba trong số trên hai ngàn bài thơ của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm

    XUÂN HIỂU
    Nguyễn Phước Miên Thẩm
    Dịch thơ Phan Văn Các

    Gió đông se lạnh màn mai
    Cánh hoa sương nặng giọt rơi xuống thềm
    Áo đơn ngại chẳng cuốn rèm
    Một mình nằm với hơi men ngà ngà
    Không yên ngựa dạo tìm thơ
    Hoạ bình quây gối ngắm hờ núi xuân.

    Nguyên văn Hán Nôm






    Hoán khê sa – Xuân hiểu

    Liệu tiếu đông phong hiểu mạc nhàn,
    Phi hoa hoà lộ trích lan can,
    Hà tu bất quyển khiếp y đan.
    Tiểu ẩm vi huân hoàn độc ngoạ,
    Tầm thi vô kế thúc ngâm an,
    Hoạ bình vi chẩm khán xuân san.

    Nguồn: Khúc hát gõ mái chèo, Phan Văn Các, 1999
    Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quó̂c gia, Viện nghiên cứu Hán Nôm
    xem thêm: Phạm Văn Ảnh 2012.
    Cổ duệ từ của Miên Thẩm từ văn bản đến định hướng sáng tác; Thông báo Hán Nôm học 2012, tr.62-79

    TIỀN TRẦU (CÚNG QUAN THAM)
    Nguyễn Phước Miên Thẩm
    Dịch thơ Nguyễn Sĩ Đại

    Sớm đã cúng tiền trầu
    Chiều tiền trầu lại cúng
    Quan lớn ưa cung phụng
    Oan dân rõ như ngày.
    Trong nhà quan lớn tiền bỏ nát
    Dân đen bán nhà lại bán vợ
    Cái xác tuy còn, mất nhà ở
    Gông cùm may thoát, vợ còn đâu
    Ôm con mà dứt tay chồng
    Ném trầu, trông mặt, khóc ròng cả hai!

    Phù lưu tiền hành

    Triêu tiến phù lưu tiền
    Mộ tiến phù lưu tiền
    Đại quan nghiệt phù lưu
    Nãi tuyết tiểu dân oan
    Đại quan đường trung tiền tác hư
    Tiểu dân mại gia, hoàn mại phụ
    Thử thân tuy tồn, gia dĩ hưu
    Già tỏa hạnh thoát, phụ nan lưu
    Bão nhi tạm lai dữ phu biệt
    Lộ bàng đối khấp xan phù lưu.

    NHÀ NGHÈO
    Nguyễn Phước Miên Thẩm
    Dịch thơ
    Nguyễn Thiên Thụ

    Con nhà nghèo khổ đau,
    Quanh năm rét lại đói.
    Bụng rỗng phải ăn rau,
    Lấy lửa thay chăn gối.
    Khắp đất là gươm đao,
    Đầy trời là hoạ hại.
    Vui vẻ thay nhà giàu,
    Yến tiệc suốt đêm thâu.

    Nguyên văn Hán Nôm








    Bần gia

    Tân khổ bần gia tử,
    Niên niên hàn phục cơ.
    Hiểu trường sơ thế phạn,
    Đống cốt hoả vi y.
    Biển địa do binh giáp.
    Mãn thiên thả tật oai,
    Chu môn lạc hà sự,
    Dạ ẩm đạt triều huy.

    mienthamlang

    Miên Thẩm trang đời lắng đọng

    Về  Huế, viếng lăng Tùng Thiện Vương ở gần chùa Từ Hiếu, Huế, thăm ngôi nhà xưa của nhà thơ lớn đối diện Vĩ Dạ Xưa, trò chuyện với không gian thơ rất Huế, đó là một thú vui nhàn tản, tĩnh lặng.

    Người như Tùng Thiện Vương thật hiếm. Miên Thẩm chuyện cũ viết lại là để ghi nhớ về một câu chuyện không nỡ quên: Theo Wikipedia Tiếng Việt,  Miên Thẩm thuở lọt lòng, ông được ông nội đặt tên là Ngợn[1]. Đến năm 1832, khi đã có Đế hệ thi, ông được cải tên là Miên Thẩm (Nguyễn Phúc Miên Thẩm). Năm lên 7 tuổi, Miên Thẩm cùng với các em vào Dưỡng Chính đường, được thầy Thân Văn Quyền[2] dạy chu đáo. Ông rất chịu khó học tập, nên mới 8 tuổi (1827), nhân theo hầu vua dự lễ Nam Giao, ông làm bài Nam Giao thi, rất được tán thưởng. Năm 1839, ông được phong làm Tùng Quốc Công, mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu, Huế. Năm 1849, ông lập thêm Tiêu Viên sau phủ, đón mẹ (Thục tân Nguyễn Thị Bửu) và ba em gái (Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh, Nguyễn Phúc Trinh Thận tức nữ sĩ Mai Am và Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa) ra phụng dưỡng chăm nuôi. Khi các em lần lượt có chồng, rồi mẹ mất, ông cải tạo phủ chính làm nhà thờ, còn mình lui về ở Tiêu Viên và dựng lều tranh bên cạnh mộ mẹ cư tang ba năm. Năm 1854, mãn tang, ông được gia phong Tùng Thiện Công. Năm 1858, ông mua 12 mẫu ruộng ở xã Dương Xuân, làm nhà ở gọi là Phương Thốn thảo đường. Năm 1865, ông giữ chức Tả Tôn Nhân phủ, trong thời gian này xảy ra sự biến giặc Chày vôi. Trước đó, ông đã gả con gái là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng, một thanh niên ở làng An Truyền (tức làng Chuồn). Năm 1866, Hữu Trưng ngầm làm cuộc nổi dậy (sử cũ gọi là giặc Chày Vôi) nhằm lật đổ vua Tự Đức. Việc thất bại, Hữu Trưng và nhiều người bị hành hình. Mặc dù trước đó, Hữu Trưng đã lấy cớ vợ cư xử trái lễ với mẹ chồng mà trả về để tránh liên lụy cho nhà vợ, Miên Thẩm cũng trói cả con gái và cháu ngoại, quỳ dâng sớ xin chịu tội. Vua Tự Đức không kết tội chỉ nói ông chọn rể không cẩn thận để mất thanh danh, nay trừ bổng trong tám năm. Suốt những năm bị trừ bổng ấy, ông lên ngôi chùa cổ Từ Lâm hoang tàn ở xã Dương Xuân làm nơi cư ngụ, vợ con phải canh tác trồng cây quả đem ra chợ bán để có cái ăn hàng ngày. Ông mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (tức 30 tháng 4 năm 1870) lúc 51 tuổi. Năm 1878, ông được vua Tự Đức gia tặng là Tùng Thiện Quận Vương. Năm 1929, vua Bảo Đại mới truy phong ông là Tùng Thiện Vương, tước vị mà ngày nay người ta quen gọi.

    Sự nghiệp trước tác của Tùng Thiện Vương rất phong phú (14 tập).Trong số đó đáng kể là Thương Sơn thi tập, gồm 54 quyển chia ra 8 tập với hơn 2.200 bài thơ. Các tác phẩm khác: Thương Sơn từ tập, Thương Sơn thi thoại, Thương Sơn ngoại tập, Thương Sơn văn di v.v… Theo như trong tập Thơ Tùng Thiện Vương [3], vào giữa thế kỷ 19 tại kinh thành Phú Xuân (Huế) đã xuất hiện một số nhà thơ dòng dõi hoàng tộc Nguyễn Phúc, trong đó có Tùng Thiện Công (tước vị của Miên Thẩm lúc bấy giờ), Nguyễn Phúc Miên Trinh, Nguyễn Phúc Miên Bửu, công chúa Mai Am (tất cả đều là em của ông) được nhiều người biết hơn cả.

    Thơ của ông dù viết theo thể loại nào (hành, dao, thán, từ…), dù mang nội dung cảm hoài, ngôn chí hay thù tạc…, tất cả đều có văn pháp giản dị, ý tứ thâm sâu, chữ nghĩa chọn lọc, đều mang tính hiện thực cao (rất gần với thơ Đỗ Phủ thời nhà Đường), chứa đựng tinh thần yêu nước, thương dân, hết lòng vì bè bạn. Có thể kể đến một bài như: “Phù lưu tiền hành”, “Mại trúc dao”, “Kim hộ thán”, “Bộ hổ từ”… Bên cạnh tai ách áp bức, nhũng nhiễu, bóc lột của tầng lớp trên; người dân còn lâm cảnh đói kém, lưu tán do thiên tai như lũ lụt, hạn hán nhiều năm liền như các bài: “Nam Định hải dật”, “Thủy, Lưu dân thán”… Và thao thức, dằn dặt trước bao biến động của đất nước như các bài: “Tống Lương từ”, “Mại chỉ y”, “Vận, Khiển sầu”, “Tuế mộ mặc vân sào dạ tập”, “Thương tâm”, Đọc Nguyễn Đình Chiểu, Nhạc Phi, Nhị nguyệt nhị thập… Bên cạnh những nỗi đau chung, nơi tâm tư ông còn trĩu nỗi đau riêng.

    Theo sử sách ghi, sau đám tang vua Thiệu Trị (1847), hai người cháu ruột của ông là Hồng Bảo và Hồng Nhậm cùng tranh giành ngôi vua, mở màn cho một bi kịch chốn vương triều. Cuối cùng, Hồng Bảo bị hạ ngục vì tội liên hệ với “bên ngoài”, để rồi phải tự tìm cái chết thân còn mang xiềng xích. Thảm cảnh đã được ông khéo gửi gấm trong một bài thơ khá dài: “Quỷ khốc hành”. Năm 1866, cuộc biến động ở Khiêm Lăng (loạn Chày vôi thời Tự Đức) do chính con rể đầu của ông là Đoàn Hữu Trưng chủ xướng, một lần nữa khiến vết thương lòng nhức nhói cho đến cuối đời (Vận, Tuế án độc tọa khiển muộn…).

    Tuy sau này vua Tự Đức xét ông vô can, nhưng chính nỗi đau mới này cùng với lo toan dân tình, nạn nước; tất cả khiến lòng ông thêm chán ngán cảnh điện ngọc, cung son đã khiến tinh thần ông thêm suy sụp nơi cơ thể vốn gầy gò, lắm bệnh. Ông viết:Lờ mờ học Đạo nửa đời người
    Trúc dép, đường đi mới rõ mười
    Thiên Mụ, Thánh Duyên trăng với sóng
    Bóng rừng, hương nước, có còn ai?
    “Tuyệt Bút Từ”, 1870

    Ngoài ra, ông còn có mảng thơ trữ tình viết về cảnh vật thiên nhiên và bè bạn…Tiến sĩ nhà Thanh là Lao Sùng Quang, khi đọc bài “Khiển hoài” của ông, đã phải khen rằng:

    Tụng đáo bạch âu hoàng diệp cú,
    Cổ hoài tiêu sắt đới thu hàn…

    Dịch nghĩa:

    Đọc đến câu bạch âu hoàng diệp (của ông)
    Nghe người ớn lạnh hơi thu

    Thư mục về Tùng Thiện Vương Miên Thẩm không nhiều. Ngoài Tùng Thiện vương trên web Việt Nam gia phả, thì Wikipedia tiếng Việt chỉ mới có một ít thư mục về Người

    1. ^Từ điển Văn học (bộ mới, Nhà xuất bản Thế giới, 2004), sách Vua Minh Mạng với Thái y viện & ngự dược, ghi ông tên là Hiện (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 2007, tr. 46).
    2. ^Cuộc đời và sự nghiệp nhà giáo Thân Văn Quyền: [1]. Ngoài người thầy này, Miên Thẩm còn là học trò của Trương Đăng Quế và sau này cũng là cha vợ của ông.
    3. ^Thơ Tùng Thiện Vương, Lương An tuyển chọn, Nhà xuất bản Thuận Hoá 1994

    mienthamthuongson

     Thương Sơn và Miên Thẩm

    Thương Sơn thi tập 2200 bài thơ sao gọi là Thương Sơn? Đó có phải là dãy núi 苍山; cáng shān, còn gọi là Điểm Thương Sơn (点苍山, là một dãy núi kỳ vĩ trong Thiên long bát bộ danh tiếng của Kim Dung mà thực tế ngoài đời là dãy Thương Sơn dài khoảng 50 km, rộng khoảng 20 km, ở phía tây Đại Lý, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Phía đông Thương Sơn là hồ Nhĩ Hải chăng? Thương Sơn thuộc phía nam dãy núi Vân Lĩnh, phía bắc bắt đầu từ Nhĩ Nguyên, phía nam kéo dài đến cầu Thiên Sinh, phía đông giáp với hồ Nhĩ Hải, phía nam giáp với sông Hắc Huệ. Thương Sơn đỉnh cao nhất của nó là đỉnh Mã Long, cao 4.122 m, ngoài ra dãy núi này còn có 18 đỉnh khác đều cao trên 3.500 m
    [1] Mười chín đỉnh núi chính của Thương Sơn từ bắc xuống nam bao gồm: Vân Lộng, Thương Lãng, Ngũ Đài, Liên Hoa, Bạch Vân, Hạc Vân, Tam Dương, Lan Phong, Tuyết Nhân, Ứng Lạc, Quan Âm, Trung Hòa, Long Tuyền, Ngọc Cục, Mã Long, Thánh Ứng, Phật Đính, Mã Nhĩ, Tà Dương. 18 khe suối bao gồm: Hà Di, Vạn Hoa, Dương Khê, Mang Dũng, Cẩm, Linh Tuyền, Bạch Thạch, Song Uyên, Ẩn Tiên, Mai, Đào, Trung, Lục Ngọc, Long, Thanh Bích, Mộ Tàn, Đình Huỳnh, Dương Nam.

    mienthamchuathuongson

    Dưới chân núi Thương Sơn đối diện với Hồ Nhĩ Hải tại Thành phố Đại Lý có Chùa Qianxun cao 69,13 mét, là một trong những ngôi chùa cổ cao nhất của triều đại nhà Đường (618 – 907). Đây là một trong ba ngôi chùa cổ nổi tiếng, một danh thắng tuyệt đẹp có lịch sử hơn 1.800 năm, biểu tượng lịch sử sự phát triển của Phật giáo Trung Quốc. Nhiều tác phẩm điêu khắc của Phật làm bằng vàng, bạc, gỗ hoặc tinh thể, và di sản quý giá khác tìm thấy nơi này trong chùa Qianxun, đóng một vai trò quan trọng để giải thích lịch sử cổ đại của Thành phố Đại Lý.

    “Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”. Thương Sơn thi tập 2200 bài thơ của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm có lẽ cũng ẩn chứa nhiều điều hay của một thời như ngôi chùa cổ xưa và dãy núi Thương Sơn kỳ vĩ chăng? .

    *Nghe nói cụ Mai Khắc Ứng vừa về Huế, cụ là nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế, cụ vừa có bài thơ “Tạ từ” rất hay gửi lại. Tôi thật ao ước được nghe kể hoặc lời bình của cụ về cụ Miên Thẩm, con người thận trọng, minh triết lỗi lạc, uyên bác và tài hoa này.

    MÙA TRUNG THU TÌNH THÂN
    Hoàng Kim


    Trà sớm với bạn hiền
    Mùa Trung Thu tình thân
    Thanh Trà Thủy Biều Huế
    Trăng rằm vui chơi giăng.

    THANH TRA THỦY BIỀU HUẾ
    Hoàng Kim

    Thăm vùng thanh trà Thủy Biều nôi trái cây nữ hoàng đặc sản cố đô Huế. Giáo sư tiến sĩ Trần Văn Minh hướng dẫn chúng tôi ghé thăm vợ chồng thầy giáo nông dân Thân Trọng Lập, Nguyễn Thị Phượng một gia đình trồng thanh trà ngon nức tiếng của vùng bưởi huyền thoại. Thầy Minh là nhà giáo nhân dân, nguyên Hiệu trưởng Đại học Nông Lâm Huế, người thầy nghề nông của bao thế hệ sinh viên miền Trung cũng là bạn nhà nông thân thiết của bà con nơi đây. Chúng tôi là bạn thân thuở nhỏ. Tôi ra Huế họp, thầy Minh nói “Mình tranh thủ thăm ngay vừa dịp”

    Hàng năm, lễ hội Thanh Trà Huế thường được tổ chức dịp mùa Trung Thu tình thân tại phường Thủy Biều để tôn vinh loại trái cây ngon đặc sản cố đô Huế. Bưởi Thanh Trà Huế được lưu truyền trong văn hóa dân gian sâu đậm nhất từ thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1675-1725), vị Chúa Nguyễn đời thứ 6 đã  ăn hết trái bưởi Thanh Trà ngay giữa làng Lương Quán và tấm tắc khen ngon. Thanh trà Thủy Biều sau đó trở thành đặc sản.

    Chuyện kể rằng, chúa Nguyễn Phúc Chu là một vị chúa giỏi nhà Nguyễn có nhiều công đức với dân và đất phương Nam. Chúa trong một lần du thuyền trên sông Hương chợt nhìn thấy có một vùng cây trái bưởi thanh trà xanh mướt ven sông, xum xuê, hữu tình, chúa truyền ghé thăm nơi đó là làng Nguyệt Biều, Lương Quán. Dân làng hái bưởi Thanh Trà dâng chúa thưởng thức, chúa ăn tấm tắc khen ngon và lệnh cho dân làng mở rộng trồng thêm. Từ đó, cứ vào giữa tháng 7 âm lịch hàng năm, trái bưởi Thanh Trà chín rộ, dân làng Lương Quán lại chọn ra những quả ngon nhất mang vào kinh thành tiến vua chúa để được ban thưởng. Đình làng Nguyệt Biều, đình làng Lương Quán thuộc phường Thủy Biều ngày nay làm nơi lưu dấu công đức những bậc thành hoàng bản thổ của vùng đất thanh trà mà hậu thế ghi ơn. Bưởi Thanh Trà Thủy Biều nổi danh từ đó …

    Ngày nay Bưởi Thanh Trà Thủy Biều thuộc top 50 đặc sản trái cây nổi tiếng nhất Việt Nam, là một trong năm đặc sản Thừa Thiên Huế xác lập kỷ lục châu Á, trang thông tin điện tử phường Thủy Biều thành phố Huế giới thiệu. Lễ hội thanh trà Huế không có “cửa” cho thanh trà kém chất lượng. Chú trọng chất lượng là tiêu chí của Ban Tổ Chức lễ hội thanh trà Thủy Biều, trang thông tin Thừa Thiên Huế Online (http://tintuc.hues.vn) nhấn mạnh.

    Giáo sư Trần Văn Minh với một số thành viên Ban Tổ chức lễ hội Thanh Trà Huế và chúng tôi chụp ảnh lưu niệm tại trường tiểu học Thủy Biều, tâm điểm của các gian hàng lễ hội. Tại lễ hội năm nay, bên cạnh các hoạt động trưng bày, giới thiệu mua bán thanh trà và các mặt hàng truyền thống tại địa phương, Ban tổ chức đã đưa thêm các hoạt động cung tiến thanh trà tại hai đình làng Nguyệt Biều và Lương Quán; triển lãm tranh, ảnh nghệ thuật liên quan đến thanh trà và các hoạt động lao động sản xuất tại địa phương; xây dựng dịch vụ lựa chọn thanh trà tại vườn bằng “con đường thanh trà”; tổ chức Hội thi “Trái ngon thanh trà Huế”; Hội thi bữa cơm gia đình với nguồn thực phẩm tại địa phương; Hội thi ẩm thực được chế biến từ quả thanh trà… Anh Trần Quang Phước cho hay diện tích trồng bưởi Thanh Trà tại hai làng Lương Quán và Nguyệt Biều ở phường Thủy Biều  khoảng trên  140 ha với 750 hộ gia đình.

    Cụ Nguyễn Thị Phượng chỉ dẫn cho chúng tôi cách lựa trái thanh trà ngon trên vườn. Cụ cho hay gia đình thầy Minh nhiều năm nay đã là bạn thân thiết của gia đình cụ. Những cây bưởi đầu dòng quý được những lão nông tri điền các hộ nông dân trồng thanh trà giỏi, các nhà khoa học và khuyến nông, các nhà quản lý và hệ thống tổ chức con đường di sản địa phương cùng đồng hành khơi dậy tiềm năng con người, cây và đất. Con đường di sản là con đường gắn bó khoa học với nông dân, du lịch sinh thái, ẩm thực Việt với mạch thiêng lịch sử văn hóa giáo dục Việt.

    Căn nhà nhỏ tĩnh lặng, bình dị của một cặp vợ chồng già tại vùng bưởi thanh trà Thủy Biều cố đô Huế ẩn chứa một minh triết và lời khuyên thầm lặng. Gian giữa cửa chính, nơi hướng về bàn thờ tưởng nhớ tổ tiên ngời ngời một bức đại tự xưa “Phong Vân đắc lộ”. Gian bên, bạn nhìn thấy trên tường nhà “Lễ phát thưởng khuyến học của ông bà Thân Trọng Lập” đối với con cháu .

    bannhanong

    Ông bà Thân Trọng Lập Nguyễn Thị Phương chụp ảnh lưu niệm với giáo sư Trần Văn Minh, vợ chồng thầy giáo Quang đại học Nông Lâm Huế là ấn tượng về truyền thống hiếu học của người Việt. “Nên thợ nên thầy nhờ có học. No ăn no mặc bởi hay làm”. Chúng ta ngộ ra được truyền thống hiếu học của vùng đất kinh kỳ xưa. Cụ Lập thu thập các giấy khen thành tích học tập của con cháu chắt để khuyến khích sự học, tuyên dương tại những dịp giỗ chạp hiếu hỉ gia đình, ngợi khen những cháu ngoan giỏi học và hành được những việc tốt lành.

    Ngắm bức tranh cổ, tôi bâng khuâng nghĩ về con đường di sản Thanh trà Huế. Tôi nhớ về câu chuyện năm 1613, chúa Nguyễn Hoàng, vị chân chúa, người khai sáng gia tộc họ Nguyễn ở Đằng Trong, mà hậu duệ là vương triều nhà Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam.  Chúa Tiên Nguyễn Hoàng lúc lâm bệnh nặng, đã gọi người con thứ 6 là Thụy quận công Nguyễn Phúc Nguyên từ Quảng Nam về kế vị và căn dặn: “Đất Thuận Quảng này phía bắc có núi Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Bi Sơn, thật là đất của người anh hùng dụng võ. Vậy con phải biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để xây dựng cơ nghiệp muôn đời“. Thương yêu dân, giáo hóa dân, tạo nên nết tốt bản sắc văn hóa lịch sử của một vùng đất. Giáo dục gia đình xã hội thấm thía trong từng nếp nhà. Đó là con đường di sản.

    Kinh thành Huế thu nhỏ tại bún bò Ngọc Dung, Thủ Đức  là một cách yêu quê hương và lan tỏa tình yêu này đến người khác của một người bạn Huế khác tại thành phố Hồ Chí Minh. Lê Hùng Lân gạo ngon Hoa Tiên bạn tôi đã chia sẻ câu chuyện này. Việt Nam tổ quốc tôi, có sự tương đồng trong cách thể hiện lòng biết ơn của mình đối với quê hương yêu dấu của những người con xa xứ hoặc gắn bó với quê hương thăm thẳm nhớ ơn cội nguồn. Con đường xanh Việt Nam, con đường xanh của chúng ta là con đường di sản kết nối sức mạnh Việt, khai mở tiềm năng mạnh mẽ của những sản phẩm chất lượng cao Việt Nam vươn ra thế giới.

    Thanh trà Huế tại nôi di sản Thủy Biều là bài học thời sự nóng hổi về nông dân ngày nay và nông sản Việt, là câu trả lời về sự tỉnh thức tâm linh và tầm nhìn của những người biết ơn và nặng lòng với quê hương đất nước, biết trở về tìm kiếm kho báu chính mình phúc hậu an nhiên. Người dân vùng thanh trà Thủy Biều Huế biết cách bảo tồn và quảng bá loài quả quý địa phương, một nông sản Việt có giá trị đích thực, biết thức dậy tiềm năng của một vùng đất lành, một nghề lành, kết nối nông nghiệp du lịch sinh thái ẩm thực lịch sử văn hóa, gắn hiện tại với quá khứ và tương lai Việt.

    Thanh trà Thủy Biều cố đô Huế là sản phẩm đầy đặn tự hào Việt Nam.

    Hoàng Kim

    Ghi chú: Tôi (HK) nói với anh Trần Quang Phước (thứ hai bên phải): Ngày này năm xưa, anh nhớ chứ? Ảnh này thật đẹp !

    THĂM NHÀ CŨ CỦA DARWIN
    Hoàng Kim

    Đôi mắt Darwin soi thấu nguồn gốc các loài. Thăm nhà cũ của Darwin, là tìm đến tư duy mạch lạc của một trí tuệ lớn để vận dụng soi tỏ “Niên biểu lịch sử Việt Nam“, ” 500 năm Nông nghiệp Việt Nam”, “Đường tới IAS 100 năm” nhằm tìm thấy trong sự rối loạn và góc khuất lịch sử  dòng chủ lưu tiến hóa, chấn hưng văn hóa, giáo dục và nông nghiệp Việt.

    Tôi may mắn được dạo chơi Down House ngôi nhà cũ của nhà tự nhiên học người Anh Charles Darwin và gia đình ông để có giây phút lặng ngắm khu vườn riêng di sản nhỏ bé của ông. Chính tại nơi này Darwin đã làm việc về thuyết tiến hóa bởi chọn lọc tự nhiên và nhiều thí nghiệm khác. “Nguồn gốc các loài” của Charles Darwin xuất bản lần đầu tiên ngày 24 tháng 11 năm 1859 là ấn phẩm khoa học tiêu biểu và là tác phẩm nòng cốt của ngành sinh học tiến hóa, chứng minh rằng mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên. Hiện nay học thuyết tiến hóa của Darwin vừa được tôn vinh vừa bị phê phán dữ dội. Vượt qua mọi khen chê của nhân loại và thời đại biến đổi, triết lý của Charles Darwin thật sâu sắc.“Thích nghi để tồn tại” “Mọi loài đều tiến hóa theo thời gian từ những tổ tiên chung qua quá trình chọn lọc tự nhiên“, bài học tình yêu cuộc sống đắt giá của tự nhiên, mỗi người, cộng đồng dân tộc và nhân loại.

    Đôi mắt Darwin soi thấu nguồn gốc các loài. “Kẻ sống sót không phải là kẻ mạnh nhất hay thông minh nhất, mà là kẻ thích nghi tốt nhất” Charles Darwin đã nói vậy: “It is not the strongest of the species that survives, nor the most intelligent that survives. It is the one that is most adaptable to change” Bảo tồn và phát triển bền vững, thích nghi để tồn tại là câu chuyện lớn của mỗi người và nhân loại, là lời nhắc của quá khứ hiện tại và tương lai cho nhân loại và chính cộng đồng người dân Việt Nam để không bao giờ được phép quên lãng. Thích nghi để tồn tại mới là người thắng sau cùng. Cân bằng hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, tiến bộ và công bằng an sinh xã hội, giữ vững độc lập thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia là những vấn đề trọng yếu trong chính sách kinh tế xã hội tự nhiên và an sinh.

    Thăm ngôi nhà cũ của Darwin là tìm đến tư duy mạch lạc của một trí tuệ lớn Tôi được may mắn có một thời gian cùng làm việc với “Những người bạn Nga của Viện Vavilop”. Tôi từng đươc may mắn tới nhiều vùng văn hóa nổi tiếng
    Đi khắp quê người để hiểu đất quê hương, : Tiệp Khắc kỷ niệm một thời, Praha Goethe và lâu đài cổ, Giấc mơ thiêng cùng Goethe; Qua Waterloo nhớ Walter Scott; Đến Neva nhớ Pie Đại Đế; Thổ Nhĩ Kỳ nông nghiệp sinh tháiChâu Mỹ chuyện không quên; 500 năm nông nghiệp Brazil, Đất nước Mexico ấn tượng lắng đọng; Nhớ châu Phi; Địa chỉ xanh Ấn Độ, Tagore Thánh sư Ấn Độ; Đến Thái Sơn; Đi thuyền trên Trường Giang; Chiếu đất ở Thái An; Đỗ Phủ thương đọc lại; Tô Đông Pha Tây Hồ, Quảng Tây nay và xưa ;Trung Quốc một suy ngẫm; … duyên may gặp được các trang vàng của những người thầy lớn, có tầm nhìn xa rộng, sức khái quát cao và tài năng khoa học phi thường. Tôi vì giới hạn nhiều điều chưa kịp chiêm nghiệm chép lại. Nay bất chợt gặp lại chùm ảnh tư liệu cũ “một thời để nhớ” bỗng bâng khuâng ngưỡng mộ sức khái quát trong đúc kết .Thật thú vị khi được trãi nghiệm một phần đời mình gắn bó máu thịt với Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam; Thật yêu thích được dạy và học bảo tồn và phát triển, tìm thấy trong sự rối loạn và góc khuất lịch sử dòng chủ lưu tiến hóa, chấn hưng đất nước.

    Ghi chú

    (*) Viết và hiệu đính “Thăm ngôi nhà cũ của Darwin” tôi nghĩ về bộ sách đồ sộ Cây Cỏ Việt Nam gồm 6 Quyển 2 Tập của Giáo sư Phạm Hoàng Hộ xuất bản tại hải ngoại. Trọn bộ Cây cỏ Việt Nam gồm hai Tập, mỗi Tập 3 Quyển, tổng cộng khoảng 3,600 trang, chưa kể Phần Từ Vựng tên Việt Nam và Từ Vựng tên Khoa học các Giống (Chi) bao gồm thêm cả công trình của những năm tháng giáo sư rời quê hương Việt Nam sang Pháp, vẫn tiếp tục cặm cụi làm việc (nguồn: Ngô Thế Vinh). “Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ thì bộ sách Cây cỏ Việt Nam đã được thực hiện qua 4 giai đoạn: Nghiên cứu giai đoạn một:hợp tác với GS Nguyễn Văn Dương về phần dược tính, Cây cỏ Miền Nam Việt Nam, do bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1960 mô tả 1,650 loài thông thường của Miền Nam, “Đó là giai đoạn còn mò mẫm, học hỏi một thực-vật-chúng chưa quen thuộc đối với một sinh viên vừa tốt nghiệp từ vùng xa lạ mới về. Nghiên cứu giai đoạn hai: kỳ tái bản lần hai 1970 bộCây cỏ Miền Nam Việt Nam, số loài lên được 5,328 loài… ; Nghiên cứu giai đoạn ba:tiếp tục công việc nghiên cứu sau 1975, đưa thêm được vào bộ sách Cây cỏ Miền Nam Việt Nam 2,500 loài và bộ được nới rộng cho toàn cõi Việt Nam. Nghiên cứu giai đoạn bốn: bộ sách Cây cỏ Việt Nam được bổ sung trên 3000 loài. Số loài mô tả khoảng 10,500. Sau khi hoàn tất bộ sách Cây Cỏ Việt Nam, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã bày tỏ lòng tri ân sâu xa đối với Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris và các bạn đồng sự Pháp, ông đã rất chân thành tâm sự: “thực hiện những điều mà lúc nhỏ dù điên rồ tới đâu tôi cũng không dám mơ ước: nô lệ của một thuộc địa, học ở một trường thường, ở một tỉnh nhỏ, bao giờ dám nghĩ đến tạo một quyển sách dù nhỏ bé, mê cây cỏ xung quanh nhưng bao giờ nghĩ đến biết cây cỏ cả nước!” Người “trí thức đau khổ” Phạm Hoàng Hộ đã vươn lên và hoàn tất được “giấc mơ điên rồ” tưởng như không thể được ấy và trở thành cây “đại thụ” trong Khoa học Thực vật của Việt Nam và cả Thế giới.”

    (**) Việt Nam con đường xanh; Đường tới IAS 100 năm; Cụ Trứ Nguyễn Ngọc Trìu trong tôi là chùm ảnh và bài viết của Hoàng Kim về Bộ Trưởng Nguyễn Ngọc Trìu đến Trung tâm Hưng Lộc năm 1987 thăm thành tựu tiến bộ kỹ thuật “trồng ngô lai xen đậu ở vùng Đông Nam Bộ” và mô hình “nghiên cứu phát triển đậu rồng ở các tỉnh phía Nam. Hai công trình này do Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam giới thiệu, đã được Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn công nhận là tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp và được phát triển rộng rãi trong sản xuất. Cụ Trứ Nguyễn Ngọc Trìu là một chính khách lớn, có cuộc đời và sự nghiệp dường như là cụ Nguyễn Công Trứ của thời đại Hồ Chí Minh. Mọi người khi nhắc đến Cụ đều nhớ ngay đến vị Chủ tịch tỉnh Thái Bình sinh ở Tây Giang, Tiền Hải đã làm rạng ngời “quê hương 5 tấn”, nhớ ông Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp trí tuệ, xông xáo và rất biết lắng nghe, sau này làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách mảng Nông – Lâm – Ngư nghiệp và Đặc phái viên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đối với vùng Nam Bộ . Cụ Trìu cũng là Chủ tịch Hội những người làm vườn Việt Nam, nơi tâm nguyện của ông được bạn thơ Thợ Rèn mến tặng’ “Danh vọng hão huyền như mây khói . Làm vườn cây trái để ngàn năm”, như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Trìu làm lãnh đạo nhưng trước hết là một Con Người”.

    Gốc của sự học là học làm người.

    Hoàng Kim

    đọc tiếp https://hoangkimlong.wordpress.com/category/tham-nha-cu-cua-darwin/

    Trăng rằm vui chơi giăng

    TRĂNG RẰM
    Hoàng Kim

    Trăng rằm đường sáng dạo chơi giăng,
    Nhớ Bác đôi câu hỏi chị Hằng:
    “Thế nước thịnh suy sao đoán định?
    Lòng dân tan hợp biết hay chăng?
    Vành đai thế biến nhiều mưu hiểm,
    Con đường lực chuyển lắm lăng nhăng?
    Dân Nam Tiếng Việt nhiều gian khó
    Hưng thịnh làm sao hỡi chị Hằng?”.
    *
    “Bác Hồ thơ ‘Chơi giăng’ đó ông
    Vầng trăng cổ tích sáng non sông,
    Tâm sáng đức cao chăm việc tốt
    Chí bền trung hiếu quyết thắng không?
    Nội loạn dẹp tan loài phản quốc
    Ngoại xâm khôn khéo giữ tương đồng.
    Khó dẫu vạn lần dân cũng vượt.
    Lòng dân thế nước chắc thành công”.

    Nguyên vận thơ Bác Hồ
    CHƠI GIĂNG
    Hồ Chí Minh


    Gặp tuần trăng sáng, dạo chơi giăng,
    Sẵn nhắn vài câu hỏi chị Hằng:
    “Non nước tơi bời sao vậy nhỉ?
    Nhân dân cực khổ biết hay chăng?
    Khi nào kéo được quân anh dũng,
    Để dẹp cho tàn bọn nhố nhăng?
    Nam Việt bao giờ thì giải phóng
    Nói cho nghe thử, hỡi cô Hằng?”.
    *
    Nguyệt rằng: “Tôi kính trả lời ông:
    Tôi đã từng soi khắp núi sông,
    Muốn biết tự do chầy hay chóng,
    Thì xem tổ chức khắp hay không.
    Nước nhà giành lại nhờ tài sắt,
    Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng.
    Tổ chức, tuyên truyền càng rộng rãi,
    Tức là cách mệnh chóng thành công”.

    Báo Việt Nam độc lập, số 135, ngày 21-8-1942. Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000

    đón đọc Trăng rằm đêm Trung Thu

    CNM365 TÌNH YÊU CUỘC SỐNG
    DẠY VÀ HỌC
    https://hoangkimvn.wordpress.com
    ngày mới nhất bấm vào đâycập nhật mỗi ngày

    Video yêu thích
    Bài ca thời gian
    Run away with me.
    KimYouTube

    Trở về trang chính
    Hoàng Kim Long, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và Học, Việt Nam Học, Cây Lương thực Việt Nam, CNM365Tình yêu Cuộc sống, Kim on LinkedIn, Kim on Facebook, Kim on Twitter

    Số lần xem trang : 210
    Nhập ngày : 15-09-2021
    Điều chỉnh lần cuối :

    Ý kiến của bạn về bài viết này


    In trang này

    Lên đầu trang

    Gởi ý kiến

      Việt Nam học

      Mùa xuân quê hương(23-12-2011)

      Người đương thời với nghề trồng lúa (20-12-2011)

      Cú hích từ cánh đồng mẫu lớn(03-12-2011)

      Lúa thu đông 2011 ở ĐBSCL trúng đậm(28-11-2011)

      Mười biện pháp kỹ thuật thâm canh lúa ở Nam Bộ(26-11-2011)

      Khoa Nông học họp mặt truyền thống(21-11-2011)

      20.11 thắp sáng ước mơ cho em(19-11-2011)

      Lời của Thầy theo mãi bước em đi(19-11-2011)

      Công việc này trao lại cho em(18-11-2011)

      Những vần thơ yêu thương(13-11-2011)

    Trang kế tiếp ... 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36

Hoàng Kim, Khoa Nông Học, Trường ĐH Nông Lâm TP.HCM, ĐTDĐ:0903 613024,Email:hoangkimvietnam1953@gmail.com, hoangkim@hcmuaf.edu.vn

Thiết kế: Quản trị mạng- ĐHNL 2007